Hướng dẫn cách lập BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Để lập báo cáo tài chính kế toán cần chuẩn bị những gì? Dưới đây là một số hướng dẫn cơ bản giúp các bạn dễ dàng thực hiện BCTC cho doanh nghiệp mìnhBảng
cân đối kế toán
Kế toán chúng ta lại phải căng mắt để lập BCTC. Đối
với các bạn dày dạn kinh nghiệm thì chẳng có gì khó chứ các bạn mới vào nghề
thì rất khó khăn.
Hồng Đức chia sẻ với các bạn cách lập BCTC
• Nguyên tắc chung để lập bảng cân đối kế toán :
+ Trước khi lập BCĐKT, nhân viên kế toán cần phải phản ánh tất cả các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh vào sổ kế toán tổng họp và chi tiết có liên quan, thực hiện
việc kiểm kê tài sản và phản ánh kết quả kiểm kê vào sổ kế toán. Trước khi khoá
sổ. Đối chiếu công nợ phải thu, phải trả, đối chiếu giữa số liệu tổng hợp và số
liệu chi tiết, số liệu trên sổ kế toán và số thực kiểm kê, khoá sổ kế toán và
tính số dư các tài khoản.
+ Khi lập BCĐKT, những chỉ tiêu liên quan đến những tài khoản phản ánh tài sản
có số dư Nợ thì căn cứ vào số dư Nọ để ghi. Những chỉ tiêu liên quan đến những
tài khoản phản ánh nguồn vốn, có số dư có thì căn cứ vào số dư có của tài khoản
để ghi.
+ Những chỉ tiêu thuộc các khoản phải thu, phải trả ghi theo số dư chi tiết của
các tài khoản phải thu, tài khoản phải trả. Nếu số dư chi tiết là dư Nợ thì qui
ở phần "tài sản", nếu số dư chi tiết là số dư có thì ghi ở phần
"nguồn vốn".
+ Một số chỉ tiêu liên quan đến các tài khoản điều chỉnh hoặc tài khoản dự
phòng (như TK : 214, 129, 229, 139, 159) luôn có số dư có, nhưng khi lên BCĐKT
thì ghi ở phần tài sản theo số âm; các tài khoản nguồn vốn như 412, 413, 421 nếu
có số dư bên Nợ thì vẫn ghi ở phần "nguồn vốn", nhưng ghi theo số âm.
Cơ sở số liệu và phương pháp lập BCĐKT :
Cơ sở để lập BCĐKT là số liệu của BCĐKT năm trước (cột số cuối kỳ) và số liệu kế
toán tổng hợp, số liệu kế toán chi tiết tại thời điểm lập BCĐKT sau khi đã khoá
sổ. Cụ thể :
* Đối với cột "đầu năm". Căn cứ số liệu cột "cuối kỳ" của
BCĐKT ngày 31/12 năm trước để ghi.
* Cột cuối kỳ : phương pháp lập khai quát có thể biểu diễn qua sơ đồ sau (kết cấu
theo 2 phần xếp dọc) :
Phương pháp lập BCĐKT cột số cuối kỳ cụ thể như sau
:
BCĐKT là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các
sổ kế toán theo các mối quan hệ cân đối vốn có của đối tượng kế toán. Mối quan
hệ cân đối đó gồm 2 loại :
1- Quan hệ cân đối tổng thể, cân đối chung như quan hệ cân đối giữa tài sản và
nguồn vốn :
Tổng số tài sản = Tổng số các nguồn vốn
Tổng số tài sản = Tài sản lưu động + TSCĐ và đầu tư tài chính
Tổng số nguồn vốn = Nợ phải trả + nguồn vốn của chủ sở hữu
Thông qua các quan hệ cân đối trên có thể thấy được kết cấu của từng loại tài sản,
từng loại nguồn vốn từ đó mà xác định được thực trạng tài chính của doanh nghiệp,
đưa ra các quyết định về việc đầu tư vốn theo hướng hợp lý, phù hợp với mục
đích và điều kiện kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể, phù hợp với ngành nghề
kinh doanh của từng đơn vị.
2- Quan hệ cân đối từng phần, cân đối bộ phận :
Thể hiện quan hệ cân đối giữa số hiện có và sự vận động của từng đối tượng kế
toán : từng loại vốn, từng nguồn vốn. Cụ thể :
+ Nguồn vốn chủ sở hữu
B nguồn vốn = A tài sản (I+II+IV+V+VI) + B tài sản
Cân đối này chỉ mang tính lý thuyết điều đó có nghĩa là : Nguồn vốn của chủ sở
hữu vừa đủ trang trải các loại tài sản cho các hoạt động chủ yếu mà không phải
đi vay hoặc chiếm dụng.
Trong thực tế thường xảy ra 1 trong 2 trường hợp :
• Trường hợp 1 :
vế trái > vế phải
doanh nghiệp không sử dụng hết nguồn vốn hiện có của mình đã bị người khác chiếm
dụng vốn. Thể hiện trên mục III (các khoản phải thu) loại A - phần tài sản.
• Trường hợp 2 :
vế trái < vế phải
doanh nghiệp thiếu nguồn vốn để trang trải cho các tài sản đang sử dụng nên phải
vay mượn. Thể hiện trên loại B - phần nguồn vốn. Việc sử dụng vốn vay mượn
trong kinh doanh nếu chưa quá thời hạn thanh toán là điều bình thường, hay xảy
ra.
Do luôn tồn tại các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với đối tượng khác
nên luôn xảy ra hiện tượng chiếm dụng và bị chiếm dụng. Vấn đề cần quan tâm là
tính chất hợp lý và hợp pháp của các khoản đi chiếm dụng và bị chiếm dụng.
B nguồn vốn + A (II) nguồn vốn = B tài sản
Điều này cho thấy cách tài trợ các loại tài sản ở doanh nghiệp mang lại sự ổn định
và an toàn về mặt tài chính. Bởi lẽ doanh nghiệp dùng nguồn vốn dài hạn để tài
trợ cho các sử dụng dài hạn vừa đủ.
Tuy nhiên, trong thực tế có thể xảy ra 1 trong 2 trường hợp sau :
• Trường hợp 1 :
Vế trái > vế phải
Điều đó cho thấy việc tài trợ từ các nguồn vốn là rất tốt. Nguồn vốn dài hạn thừa
để tài trợ cho các sử dụng dài hạn, phần thừa này doanh nghiệp dành cho các sử
dụng ngắn hạn. Điều đó cũng có nghĩa là tài sản lưu động lớn hơn nợ ngắn hạn thể
hiện khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là tốt.
• Trường hợp 2 :
Vế trái < vế phải
Cho thấy nguồn vốn dài hạn nhỏ hơn tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn,
doanh nghiệp đã sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho các sử dụng dài hạn. Tình
hình tài chính của doanh nghiệp là không sáng sủa. Trường hợp này thể hiện khả
năng thanh toán nợ ngắn hạn là yếu vì chỉ có tài sản lưu động và đầu tư tài
chính ngắn hạn mới có thể chuyển đổi thành tiền trong thời gian ngắn để đảm bảo
việc trả nợ.