Tổng hợp trả lời của Tổng Cục thuế về hóa đơn
Thông báo số 273/TB-TCT ngày 29/8/2014 của Tổng cục Thuế về kết quả Hội nghị tập huấn và giải đáp một số nội dung tại Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014 của Bộ Tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ:1. Thông tư số 39/2014/TT-BTC hướng dẫn doanh
nghiệp gửi thông báo phát hành hóa đơn với số lượng đủ sử dụng từ 3 đến 6
tháng. Vậy đối với doanh nghiệp thông báo phát hành hóa đơn lần đầu thì căn cứ
vào đâu để xác định?
Trả lời: Tại công văn số 2010/TCT-TVQT
ngày 30/05/2014 của Tổng cục Thuế hướng dẫn căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và nhu cầu sử dụng hóa đơn của tổ chức, doanh nghiệp có
ngành nghề kinh doanh, địa bàn, quy mô, … tương tự để xác định số lượng hóa đơn
được thông báo phát hành lần đầu của doanh nghiệp.
2. Điểm II công văn số 2010/TCT-TVQT ngày 30/05/2014
của Tổng cục Thuế hướng dẫn trường hợp doanh nghiệp gửi thông báo phát hành hóa
đơn với số lượng nhiều hơn nhu cầu sử dụng hóa đơn từ 3 đến 6 tháng thì bộ phận
Ấn chỉ phải thông báo cho doanh nghiệp điều chỉnh giảm số lượng hóa đơn thông
báo phát hành. Vậy doanh nghiệp có cần gửi lại thông báo phát hành hóa đơn mới
không?
Trả lời: Doanh nghiệp không cần làm lại
Thông báo phát hành hóa đơn.
3. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng
cơ bản hàng năm chỉ sử dụng khoảng 4 đến 5 số hóa đơn nên số lượng hóa đơn được
thông báo phát hành đủ dùng cho từ 3 đến 6 tháng là ít (không đủ 1 quyển hóa
đơn).
Trả lời: Căn cứ các dấu hiệu rủi ro, nếu
doanh nghiệp không thuộc diện rủi ro, cơ quan thuế xem xét doanh nghiệp thông
báo phát hành 1 quyển hóa đơn năm mươi (50) số, tương tự như số lượng hóa đơn
bán lần đầu của cơ quan thuế.
4. Đối tượng mua hóa đơn của cơ quan thuế là
doanh nghiệp đang sử dụng hóa đơn tự in, đặt in thuộc loại rủi ro cao về thuế.
Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập chưa sử dụng hóa đơn nhưng có các dấu hiệu
rủi ro cao về thuế như doanh nghiệp kinh doanh khai thác đất, đá, cát, sỏi thì
có thuộc đối tượng mua hóa đơn của cơ quan thuế không? Trường hợp doanh nghiệp
có nhiều ngành nghề kinh doanh trong đó có ngành nghề thuộc loại rủi ro cao về
thuế (như doanh nghiệp kinh doanh khai thác đất, đá, cát, sỏi), nhưng doanh thu
của ngành nghề này chưa có hoặc chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh thu của
doanh nghiệp thì doanh nghiệp có phải mua hóa đơn của cơ quan thuế không?
Trả lời: Khoản 2 Điều 11 Thông tư
39/2014/TT-BTC giao cho Cục trưởng Cục Thuế căn cứ tình hình thực tế để phân loại,
thông báo doanh nghiệp rủi ro thì chuyển sang mua hóa đơn của cơ quan thuế. Cục
thuế căn cứ tình hình thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 39/2014/TT-BTC.
5. Doanh nghiệp có giao dịch qua ngân hàng đáng
ngờ theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền thuộc loại rủi ro cao
về thuế. Tuy nhiên, cơ quan thuế khó có thông tin để xác định tiêu chí này. Kiến
nghị Tổng cục Thuế quy định cụ thể là căn cứ từ nguồn thông tin nào?
Trả lời: Thông tư liên tịch số
102/2010/TTLT-BTC-NHNN ngày 14/07/2010 của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam hướng dẫn trao đổi, cung cấp thông tin giữa cơ quan quản lý thuế với
các tổ chức tín dụng.
6. Doanh nghiệp không có quyền sở hữu, quyền sử dụng
hợp pháp các cơ sở vật chất như nhà máy, xưởng sản xuất, kho hàng, phương tiện
vận tải, cửa hàng và các cơ sở vật chất khác được xác định thuộc loại doanh
nghiệp có rủi ro cao về thuế. Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh thương mại thuê
mặt bằng, nhà để làm cửa hàng bán hàng hóa, có hợp đồng thuê hợp pháp thì có được
xem là có quyền sử dụng hợp pháp cửa hàng thuê hay không? Doanh nghiệp này có
thuộc loại rủi ro cao về thuế để chuyển sang mua hóa đơn của cơ quan thuế
không?
Trả lời: Trường hợp doanh nghiệp kinh
doanh thương mại có thuê mặt bằng, cửa hàng để hoạt động kinh doanh, có hợp đồng
thuê theo đúng quy định của pháp luật thì cũng được coi là có quyền sử dụng hợp
pháp tài sản đi thuê này.
7. Cục trưởng có được ủy quyền cho Phó Cục trưởng
ký Quyết định Danh sách doanh nghiệp thuộc loại rủi ro cao về thuế không? Đề
nghị Tổng Cục xây dựng mẫu Quyết định ban hành danh sách doanh nghiệp thuộc loại
rủi ro cao về thuế và mẫu thông báo gửi cho các doanh nghiệp này để thực hiện
thống nhất?
Trả lời: Thông tư số 39/2014/TT-BTC hướng
dẫn Cục Trưởng Cục Thuế ký Quyết định ban hành danh sách doanh nghiệp thuộc loại
rủi ro cao về thuế. Việc Cục trưởng giao cho cấp phó của mình hay ủy quyền cho
người đứng đầu một phòng thuộc Cục Thuế ký Quyết định này phải thực hiện theo
quy định của pháp luật về công tác văn thư và quản lý nhà nước về công tác văn
thư (Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/04/2004 và Nghị định số 09/2010/NĐ-CP
ngày 08/02/2010 của Chính phủ).
8. Doanh nghiệp thuộc loại rủi ro cao về thuế phải
mua hóa đơn của cơ quan thuế thì khi mua hóa đơn lần đầu có phải làm bản cam kết
về địa chỉ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp không?
Trả lời: Điểm a Khoản 2 Điều 12 Thông tư
39/2014/TT-BTC đã có hướng dẫn cụ thể.
9. Công văn số 7527/BTC-TCT ngày 12/06/2013 hướng
dẫn đối với doanh nghiệp thuộc loại rủi ro cao về thuế, cơ quan thuế phải xác
minh địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp mới thành lập và trước khi đặt in hóa
đơn lần đầu phải có xác nhận của cơ quan thuế. Vậy, đối với doanh nghiệp thuộc
loại rủi ro cao về thuế sẽ thực hiện theo quy định tại Công văn số 7527/BTC-TCT
hay Thông tư số 39/2014/TT-BTC?
Trả lời: Thực hiện theo Thông tư số
39/2014/TT-BTC.
10. Trung tâm chiếu bóng của tỉnh là tổ chức
không kinh doanh hoạt động chiếu phim và phát hành phim tuyên truyền về chính
sách, pháp luật của nhà nước thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, không thuộc
đối tượng được cấp hóa đơn lẻ nhưng lại thuộc đối tượng nộp thuế TNDN. Theo hướng
dẫn tại công văn số 2270/TCT-CS ngày 18/06/2014 thì Trung tâm phải sử dụng Bảng
kê thu mua hàng hóa, dịch vụ mua vào theo quy định tại thuế TNDN là không hợp
lý (vì đây chưa phải là căn cứ để kê khai, nộp thuế TNDN). Đề nghị đối tượng
này được cấp hóa đơn.
Trả lời: Khoản 1 Điều 13 Thông tư số
39/2014/TT-BTC đã có hướng dẫn trường hợp tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ
và cá nhân không kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu
thuế giá trị gia tăng thì cơ quan thuế không cấp hóa đơn. Tuy nhiên, thời gian
gần đây cũng có một số Cục Thuế có văn bản hỏi, Tổng cục sẽ nghiên cứu có hướng
dẫn cụ thể.
11. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt
động áp dụng phương pháp trực tiếp, đang sử dụng hóa đơn đặt in thì có được tiếp
tục đặt in hóa đơn để sử dụng?