Bỏ quy định phải đăng ký tài khoản ngân hàng thì khi thanh toán mới được khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Thông tư số 173/2016/TT-BTC về việc sửa đổi, bổ sung khổ thứ nhất Khoản 3 Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014, Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính)
Thông tư số 173/2016/TT-BTC Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 và Luật số
21/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế; Căn cứ Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 và Luật số
31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng;
Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế; Căn cứ Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2013 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế giá
trị gia tăng;Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 của Chính
phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế; Căn cứ Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế; Căn cứ Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về
thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế; Căn cứ Nghị định số 215/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2013 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ
Tài chính; Theo đề nghị của Tổng
cục trưởng Tổng cục Thuế, Bộ trưởng Bộ Tài chính
ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Thông tư hướng dẫn về
thuế giá trị gia tăng như sau: Điều 1. Sửa đổi, bổ sung khổ
thứ nhất khoản 3 Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ
Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số
209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (đã được sửa đổi, bổ sung
theo Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC
ngày 10/10/2014, Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính)
như sau: “3. Chứng từ thanh toán
qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài
khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp
luật hiện hành như séc, uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi, uỷ nhiệm thu, nhờ thu,
thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức
thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ
tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư
nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh
nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán).” Điều 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày
15 tháng 12 năm 2016. Trong quá trình thực
hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ
Tài chính để nghiên cứu giải quyết./. |
Vậy là: Theo thông tư 173 này thì:
Hiện nay, Từ ngày
01/05/2021, Doanh nghiệp không cần phải đăng ký tài khoản ngân hàng với sở kế
hoạch đầu tư, cơ quan thuế khi thay đổi (Thêm mới hoặc đóng) TKNH.
Theo
Thông tư 01/2021/TT-BKHĐT có hiệu lực từ ngày 01/05/2021, thông tin về số tài
khoản ngân hàng của doanh nghiệp đã có một số thay đổi như sau:
-
Bỏ thông tin về tài khoản ngân hàng trong các loại biểu mấu giấy đề nghị đăng
ký doanh nghiệp. Hiện nay, tất cả các loại biểu mẫu đăng ký thành lập doanh
nghiệp tại phần đăng ký thuế không có thông tin về tài khoản ngân hàng.
-
Trong thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, thông tin về tài khoản
ngân hàng cũng đã được bãi bỏ.
Như
vậy, thông tin về tài khoản ngân hàng không còn là thông tin đăng ký thuế nữa.
Vì
vậy, Khi doanh nghiệp mở tài khoản ngân hàng không phải thông báo với sở kế hoạch
đầu từ như trước nữa.
Trước đây, vấn đề thanh toán Không dùng tiền mặt đối với các hóa đơn
có tổng thanh toán từ 20 triệu đồng trở lên bằng hình thức thanh toán qua ngân
hàng được quy định như sau:
“3.
Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển
tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán (tài khoản của bên mua và
tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan
thuế. Bên mua không cần phải đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế tài khoản
tiền vay tại các tổ chức tín dụng dùng để thanh toán cho nhà cung cấp)
mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán
phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi,
uỷ nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử)
và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua
thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh
nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ
doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu tài khoản này đã được đăng ký
giao dịch với cơ quan thuế).”