Những gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính và trách nhiệm của kiểm toán viên
Kế toán, kiểm toán là lĩnh vực đòi hỏi sự cẩn thận, tỉ mỉ và độ chính xác cao. Bởi chỉ cần một sai sót nhỏ, bạn sẽ gây thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp. Ở bài viết dưới sẽ làm rõ các hành vi gian lận phổ biến trên BCTC, phân biệt rạch ròi giữa gian lận và sai sót (cố ý và vô ý), dấu hiệu nhận biết gian lận, và trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc phát hiện gian lận và sai sót như thế nào.Nhận biết gian lận và sai sót trên báo cáo tài
chính
Gian lận được hiểu là hành vi cố ý do một hay
nhiều người trong ban quản trị (BQT)/ Ban giám đốc (BGĐ), các nhân viên hoặc
bên thứ ba thực hiện các hành vi gian dối để thu lợi bất chính, hoặc bất hợp
pháp. (Ví dụ như: giả mạo hồ sơ, cố ý không ghi chép các giao dịch, hoặc cố ý
cung cấp các giải trình sai cho kiểm toán viên…).
Còn sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát
sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn. Để phân biệt giữa gian lận và nhầm lẫn, cần
phải xem xét hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố
ý. Kiểm toán
viên cần quan tâm đến 2 loại sai sót trọng yếu đó là: Sai sót xuất phát từ việc
lập BCTC gian lận và sai sót do biển thủ tài sản.
Trong quá trình kiểm toán, nếu phát hiện lỗi sai trên báo cáo tài chính, kiểm
toán viên cần tìm hiểu rõ bản chất của lỗi gian lận hay sai sót. Bởi với mỗi
lỗi sai sẽ có hình thức xử phạt, sửa chữa khác nhau.
·
Gian
lận: kiểm toán viên phải tìm thấy bằng chứng, chứng minh tính “cố ý” của hành động
trong lỗi sai.
·
Sai
sót: kiểm toán viên phải tìm thấy bằng chứng, chứng minh tính “vô ý” của tác
nhân.
Nhưng như thế vẫn chưa đủ để phân biệt được
gian lận và sai sót. Cùng tìm hiểu những ví dụ cụ thể sau đây.
Một số sai sót thường thấy trên báo cáo tài
chính
Áp dụng sai các nguyên tắc kế toán
Đây là sai sót khá phổ biến của kế toán còn
thiếu kinh nghiệm công việc. Không cập nhật các chuẩn mực và thông tư kế toán
mới => áp dụng sai phương pháp tính giá hàng tồn kho từ nhập trước xuất sau
sang nhập nhau xuất trước. Hay ghi nhận giá trị tài sản theo giá gốc thay vì
giá thị trường. Với kế toán thiếu sự chủ động, cập nhật tin tức thì lỗi này
thường thấy.
Ước tính kế toán và ghi nhận chưa hợp lý cho
chi phí nợ xấu
Với những kế toán có tính cẩn thận, mỗi kỳ kế
toán thường lập dự phòng cho những khoản thu không có khả năng đòi. Thận trọng,
theo sát tình hình thực tế tài chính DN là những yêu cầu với kế toán. Vì vậy,
nếu kế toán không nắm được nguyên tắc này thì sai sót trong BCTC là dễ hiểu.
Phân loại nhầm chi phí
Đây cũng là sai sót thường thấy ở kế toán. Ví
dụ, chi phí quảng cáo ghi nhận vào chi phí khấu hao. Vì 2 TK này có số hiệu gần
giống nhau, kế toán rất dễ nhầm lẫn, ghi sai.
Những gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính
2.1. Che dấu công nợ và chi phí
Không ghi nhận công nợ và chi phí lên BCTC, vốn
hóa chi phí không đủ điều kiện vốn hóa.
2.2. Ghi nhận doanh thu không có thật
·
Tạo
khách hàng giả thông qua lập chứng từ giả mạo nhưng hàng hóa không được giao,
hoặc đẩy hàng cho nhà phân phối và đầu niên độ sau sẽ lập bút toán hàng bán bị
trả lại.
·
Ký
hợp đồng với một số công ty quen biết nhằm tăng doanh số tạm thời, tạo nhu cầu
và giá bán ảo cho hàng hóa của công ty.
2.3. Định giá sai tài sản
·
Không
ghi giảm giá trị hàng tồn kho khi hàng đã hư hỏng, không còn sử dụng được hay
không lập đầy đủ dự phòng giảm giá hàng tồn kho, nợ phải thu khó đòi, các khoản
đầu tư ngắn, dài hạn.
·
Định
giá sai các tài sản mua qua hợp nhất kinh doanh.
2.4. Ghi nhận sai niên độ
Doanh thu và chi phí không được ghi vào đúng kỳ
mà nó phát sinh
2.5. Không công bố thông tin đầy đủ
·
Không
công bố đầy đủ các thông tin nhằm hạn chế khả năng phân tích của người sử dụng
BCTC.
·
Các
thông tin thường không đựợc khai báo đầy đủ trong thuyết minh như: nợ tiềm tàng,
các hợp đồng ủy thác, thông tin về bên có liên quan, những thay đổi về chính
sách kế toán…
2.6. Không ghi
nhận công nợ và chi phí, đặc biệt là không trích lập dự phòng đầy đủ
2.7. Vốn hóa chi phí
2.8. Không ghi
nhận hàng bán trả lại, không trích trước chi phí dự phòng
5 dấu hiệu nhận biết gian lận trên báo cáo tài
chính
·
Doanh
nghiệp có cơ cấu sở hữu phức tạp, sở hữu chéo, thành lập nhiều SPV (là những
công ty con được thành lập để thực hiện một nhiệm vụ nào đó).
·
Lợi
nhuận vượt trội trong lĩnh vực hoạt động thông thường, không đặc sắc (Dược Viễn
Đông)
·
Dòng
tiền từ hoạt động kinh doanh liên tục âm, được bù đắp bằng dòng tiền từ hoạt động
tài chính (tăng vốn)
·
Lợi
nhuận cao bất thường trước các đợt tăng vốn, lợi nhuận không đến từ hoạt động
kinh doanh chính mà đến từ việc bán tài sản, thông qua các hợp đồng hợp tác
kinh doanh, hợp đồng ủy thác, giao dịch với các bên liên quan
·
Hay
thay đổi người đại diện theo pháp luật, Kế toán trưởng.
Trách nhiệm của kiểm toán viên và doanh nghiệp
kiểm toán liên quan đến gian lận
4.1. Trách nhiệm của BGĐ/BQT đơn vị được kiểm
toán
BGĐ đơn vị có trách nhiệm ngăn ngừa, giảm bớt các cơ hội thực hiện hành vi gian lận, cam kết tạo ra văn hóa trung thực và hành vi có đạo đức trong đơn vị.
BQT có trách nhiệm giám sát các hoạt động của BGĐ và phải xem xét khả năng xảy ra hành vi khống chế kiểm soát, hoặc hành động gây ảnh hưởng không thích hợp đến quy trình lập và trình bày BCTC. Ví dụ, việc BGĐ cố gắng điều chỉnh kết quả kinh doanh để các nhà phân tích không hiểu đúng về hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị được kiểm toán.
Khi thực hiện kiểm toán, KTV cần xét trên phương diện tổng thể BCTC có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không. Do những hạn chế vốn có của kiểm toán nên có rủi ro khó tránh khỏi, kể cả khi cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch, và thực hiện theo quy định của chuẩn mực kiểm toán (CMKiT), thì KTV vẫn có thể không phát hiện được một số sai sót trọng yếu đến BCTC, đặc biệt là sai sót do gian lận.
Rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận cao hơn rủi ro có sai sót trọng yếu do
nhầm lẫn, vì gian lận có thể thực hiện một cách tinh vi, được tổ chức chặt chẽ,
có hành động che dấu, có sự thông đồng của nhiều người, nhiều cấp.
4.2. Các yêu cầu đối với kiểm toán viên và
doanh nghiệp kiểm toán
– Xác định và đánh giá rủi ro
có sai sót trọng yếu do gian lận:
KTV phải xác định và đánh giá rủi ro có sai sót
trọng yếu do gian lận ở cấp độ BCTC, và ở cấp độ cơ sở dữ liệu của các nhóm
giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh, đồng thời phải luôn giả
định rằng có rủi ro gian lận trong việc ghi nhận doanh thu, để đánh giá xem
loại doanh thu nào, giao dịch nào dẫn đến các rủi ro đó.
– Biện pháp xử lý đối với rủi
ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá ở cấp độ BCTC, bao gồm:
·
Nâng
cao thái độ hoài nghi nghề nghiệp, phân công và giám sát nhân sự dựa trên kiến
thức, kỹ năng và năng lực của các cá nhân sẽ được giao trách nhiệm chính trong
cuộc kiểm toán.
·
Đánh
giá việc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán của đơn vị, đặc biệt là
chính sách liên quan đến ước tính và xét đoán chủ quan và các giao dịch phức tạp,
có dấu hiệu gian lận trong việc lập BCTC.
·
Thay
đổi hoặc bổ sung một số yếu tố không thể dự đoán trước được khi lựa chọn nội
dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán.
·
Thủ
tục kiểm toán – áp dụng đối với các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp
độ cơ sở, dẫn liệu đã được đánh giá: Gồm thiết kế, thực hiện các thủ tục kiểm
toán tiếp theo có nội dung, lịch trình và phạm vi tương ứng với kết quả đánh
giá rủi ro.
Kiểm toán viên phải luôn coi rủi ro BGĐ khống
chế kiểm soát là loại rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận, và là rủi ro
đáng kể và thực hiện các thủ tục kiểm toán để:
·
Kiểm
tra tính thích hợp của các bút toán ghi sổ và các điều chỉnh khác trong khi lập
BCTC.
·
Soát
xét các ước tính kế toán để xem có sự thiên lệch hay không, và đánh giá xem các
tình huống phát sinh sự thiên lệch (nếu có), có thể hiện rủi ro sai sót trọng yếu
do gian lận hay không.
·
Đánh
giá lý do kinh tế đối với các nghiệp vụ quan trọng phát sinh ngoài quá trình
kinh doanh bình thường của đơn vị. Hoặc KTV xét đoán thấy có biểu hiện bất thường,
các thủ tục khác (nếu cần).
– Đánh giá bằng chứng kiểm toán:
·
KTV
phải đánh giá các thủ tục phân tích thực hiện ở giai đoạn cuối của cuộc kiểm
toán, để xem có dấu hiệu cho thấy có rủi ro về sai sót trọng yếu do gian lận mà
chưa được phát hiện trước đó hay không.
·
KTV
phải đánh giá sai sót đã xác định (nếu có) có phải là biểu hiện của gian lận
hay không và đánh giá tác động của sai sót đó đối với các khía cạnh khác của cuộc
kiểm toán, đặc biệt là tính tin cậy của các giải trình của BGĐ. KTV phải luôn
lưu ý rằng gian lận thường không phải là cá biệt.
·
Nếu
xác định được một sai sót mà KTV tin rằng sai sót đó liên quan đến gian lận và
có sự tham gia của BGĐ (đặc biệt là lãnh đạo cấp cao), thì KTV phải xem xét lại
đánh giá của mình về rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận và ảnh hưởng của
sai sót đó tới nội dung, lịch trình, phạm vi các thủ tục kiểm toán, độ tin cậy
của các bằng chứng đã thu thập được trước đó….
Khi kiểm toán viên khẳng định BCTC có sai sót
trọng yếu, hoạc không thể kết luận được BCTC có sai sót trọng yếu do gian lận
hay không, thì KTV phải đánh giá các tác động đối với cuộc kiểm toán theo quy
định của CMKiT số 450 và số 700.






