TT 217_2013 HD Xử Phạt vi Phạm Trong Lĩnh Vật chứng Khoán Và Thông Tin chứng Khoán
THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
BỘ TÀI CHÍNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT |
Số: 217/2013/TT-BTC |
Hà Nội, ngày 31 tháng
12 năm 2013 |
THÔNG TƯ
HƯỚNG
DẪN THỰC HIỆN XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Căn cứ Luật chứng khoán
ngày 29 tháng 6 năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng
khoán ngày 24 tháng 11 năm 2010;
Căn cứ Luật xử lý vi
phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012;
Căn cứ Nghị định số
81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ Nghị định số
108/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán;
Căn cứ Nghị định số
118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Theo đề nghị của Chủ
tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước,
Bộ trưởng Bộ Tài chính
ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Đối tượng áp
dụng
1. Cá nhân, tổ chức có
hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng
khoán.
2. Cá nhân, tổ chức có
liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị
trường chứng khoán.
Điều 2. Thời hiệu xử
phạt
1. Thời hiệu xử phạt vi
phạm hành chính đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị
trường chứng khoán là 02 năm kể từ ngày chấm dứt hành vi vi phạm đối với vi
phạm hành chính đã kết thúc hoặc kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm đối với
vi phạm hành chính đang được thực hiện. Ngày phát hiện hành vi vi phạm hành
chính là ngày lập biên bản ghi nhận hành vi vi phạm hành chính đó.
2. Việc xác định thời
hiệu xử phạt đối với một số hành vi vi phạm được hướng dẫn cụ thể như sau:
a) Đối với hành vi vi
phạm quy định về thực hiện chào bán, phát hành chứng khoán tại các Điểm b, c và
d Khoản 3 Điều 4, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 6, Khoản 2 Điều 7 Nghị định số
108/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (sau đây gọi
tắt là Nghị định số 108/2013/NĐ-CP), ngày chấm dứt hành vi vi phạm để tính thời
hiệu xử phạt là ngày kết thúc việc thu tiền mua chứng khoán. Đối với hành vi vi
phạm quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP, thời hiệu xử phạt
được tính kể từ ngày chứng khoán đã chào bán ra công chúng được đưa vào niêm
yết hoặc đăng ký giao dịch đối với vi phạm đã kết thúc hoặc kể từ ngày lập biên
bản ghi nhận hành vi vi phạm đối với vi phạm đang được thực hiện;
b) Đối với hành vi vi
phạm quy định về hồ sơ đăng ký công ty đại chúng quy định tại Khoản 1, Khoản 2
và Điểm a Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP, thời hiệu xử phạt được
tính kể từ ngày lập biên bản ghi nhận hành vi vi phạm về hồ sơ đăng ký công ty
đại chúng;
c) Đối với hành vi báo
cáo, công bố thông tin không đúng thời hạn, không báo cáo, công bố thông tin
theo quy định hoặc theo yêu cầu, thời điểm xác định hành vi vi phạm được thực
hiện là ngày kế tiếp ngày kết thúc thời hạn phải thực hiện báo cáo hoặc công bố
thông tin theo quy hoặc theo yêu cầu;
d) Trong thời hạn quy
định tại Khoản 1 Điều này mà cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc
xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ ngày chấm
dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt. Ngày chấm dứt hành vi trốn tránh,
cản trở việc xử phạt là ngày cá nhân, tổ chức vi phạm tự giác trình báo và nhận
thực hiện các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán
và thị trường chứng khoán. Người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải lập
biên bản ghi nhận việc này, lưu một bản vào hồ sơ vi phạm và giao một bản cho
cá nhân, tổ chức vi phạm.
Điều 3. Hình thức phạt
tiền và biện pháp khắc phục hậu quả
1. Việc xác định mức
tiền phạt đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
chứng khoán và thị trường chứng khoán được hướng dẫn cụ thể như sau:
Mức tiền phạt cụ thể đối
với một hành vi vi phạm là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối
với hành vi đó. Mức trung bình của khung tiền phạt được xác định bằng cách chia
đôi tổng số của mức tiền phạt tối thiểu và mức tiền phạt tối đa của khung tiền
phạt.
2. Việc xác định số lợi
bất hợp pháp đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và
thị trường chứng khoán do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện.
Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước xây dựng phương pháp tính số lợi bất hợp pháp đối với hành vi vi phạm hành
chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán phù hợp với tình
hình thực tế và trường hợp cụ thể.
3. Việc thu hồi chứng
khoán đã chào bán, phát hành và hoàn trả cho nhà đầu tư tiền mua chứng khoán
quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP được thực hiện
như sau:
a) Trong thời hạn 01
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cá
nhân, tổ chức vi phạm phải công bố trên 01 tờ báo trung ương trong 03 số liên
tiếp và trên trang thông tin điện tử của công ty về việc hoàn trả tiền mua
chứng khoán hoặc tiền đặt cọc (nếu có) cộng thêm tiền lãi tính theo lãi suất
tiền gửi không kỳ hạn của Ngân hàng mà cá nhân, tổ chức vi phạm mở tài khoản
thu tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc. Khoản tiền lãi của tiền mua chứng
khoán hoặc tiền đặt cọc mà cá nhân, tổ chức vi phạm phải trả cho nhà đầu tư
được tính từ ngày nhà đầu tư nộp tiền đến ngày cá nhân, tổ chức vi phạm trả lại
tiền cho nhà đầu tư. Trường hợp nhà đầu tư đã chuyển nhượng chứng khoán mua
trong đợt chào bán nêu trên một cách hợp lệ, cá nhân, tổ chức vi phạm có trách
nhiệm xác định các nhà đầu tư đã nhận chuyển nhượng trước thời điểm thông báo
hoàn trả tiền và số lượng chứng khoán hiện đang nắm giữ để thông báo cho nhà
đầu tư đó được biết;
b) Cá nhân, tổ chức vi
phạm phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về kết quả thực hiện việc hoàn
trả cho nhà đầu tư tiền mua chứng khoán, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ
ngày hoàn thành việc hoàn trả cho nhà đầu tư.
Chương II
HÀNH VI VI PHẠM, HÌNH THỨC XỬ PHẠT VÀ MỨC PHẠT
Điều 4. Hành vi vi phạm quy định về hồ sơ đăng ký chào
bán; hồ sơ phát hành chứng khoán; hồ sơ thành lập quỹ thành viên; hồ sơ đăng ký
niêm yết, giao dịch chứng khoán; hồ sơ đề nghị cấp, bổ sung giấy phép thành lập
và hoạt động; hồ sơ đăng ký thành lập công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ tự
quản lý vốn; hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động văn phòng đại
diện; hồ sơ đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán, chi nhánh hoạt động lưu ký
1. Quy định tại Điểm a
Khoản 3 Điều 4, Khoản 2 Điều 5, Khoản 3 Điều 7 và Điểm a Khoản 2 Điều 8 Nghị
định số 108/2013/NĐ-CP được áp dụng trong trường hợp vi phạm đối với các thông
tin sau:
a) Thông tin về hoạt
động kinh doanh, tài sản, tình hình tài chính của tổ chức phát hành;
b) Thông tin về điều
kiện chào bán, phát hành, về phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu
được từ đợt chào bán, phát hành;
c) Các thông tin, tài
liệu pháp lý liên quan đến việc sử dụng vốn cho mục đích đầu tư, kinh doanh,
phát triển dự án bất động sản;
d) Thông tin về cam kết
bảo lãnh phát hành;
đ) Thông tin về cam kết
chưa thực hiện của tổ chức có chứng khoán được chào bán, phát hành; thông tin
về tranh chấp, khởi kiện liên quan đến tổ chức có chứng khoán được chào bán,
phát hành có thể ảnh hưởng đến giá chứng khoán chào bán, phát hành;
e) Thông tin về danh
sách công ty mẹ, công ty con của tổ chức phát hành, công ty mà tổ chức phát
hành đang nắm giữ quyền kiểm soát hoặc cổ phần chi phối, công ty nắm giữ quyền
kiểm soát hoặc cổ phần chi phối của tổ chức phát hành.
2. Quy định tại Khoản 3
Điều 14 và Khoản 4 Điều 15 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP được áp dụng trong
trường hợp vi phạm đối với các thông tin sau:
a) Thông tin về điều
kiện niêm yết, điều kiện đăng ký giao dịch;
b) Thông tin về hoạt
động kinh doanh, tài sản, tình hình tài chính của tổ chức niêm yết, tổ chức
đăng ký giao dịch;
c) Thông tin về cam kết
thực hiện nghĩa vụ của tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch đối với nhà
đầu tư;
d) Thông tin về cam kết
bảo lãnh thanh toán hoặc biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm và tài liệu
về quyền sở hữu hợp pháp, hợp đồng bảo hiểm đối với các tài sản đó trong trường
hợp niêm yết trái phiếu có bảo đảm;
đ) Thông tin về báo cáo
kết quả đầu tư của quỹ và công ty đầu tư chứng khoán đại chúng có xác nhận của
ngân hàng giám sát;
e) Thông tin về danh
sách công ty mẹ, công ty con của tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch,
công ty mà tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch đang nắm giữ quyền kiểm
soát hoặc cổ phần chi phối, công ty nắm giữ quyền kiểm soát hoặc cổ phần chi
phối của tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch.
3. Quy định tại Khoản 7
Điều 20 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP được áp dụng trong trường hợp vi phạm đối
với các thông tin sau:
a) Thông tin về điều
kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán, công ty quản
lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ ủy thác quản lý vốn, chi nhánh công
ty chứng khoán hoặc công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam;
b) Thông tin về hoạt
động kinh doanh, tài sản, tình hình tài chính của tổ chức đề nghị cấp, bổ sung
giấy phép.
4. Quy định tại Khoản 3
Điều 23 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP được áp dụng trong trường hợp vi phạm đối
với các thông tin về điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động công ty đầu
tư chứng khoán riêng lẻ tự quản lý vốn.
5. Quy định tại Điểm a
Khoản 4 Điều 24 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP được áp dụng trong trường hợp vi
phạm đối với các thông tin sau:
a) Thông tin về điều
kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động văn phòng đại diện;
b) Thông tin về người dự
kiến được bổ nhiệm làm Trưởng văn phòng đại diện.
6. Quy định tại Khoản 4
Điều 25 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP được áp dụng trong trường hợp vi phạm đối
với các thông tin sau:
a) Thông tin về vốn góp
tối thiểu;
b) Thông tin về thành
viên góp vốn.
7. Quy định tại Khoản 3
Điều 30 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP được áp dụng trong trường hợp vi phạm đối
với các thông tin sau:
a) Thông tin về cơ sở
vật chất, kỹ thuật đảm bảo thực hiện hoạt động lưu ký chứng khoán;
b) Thông tin về hoạt
động kinh doanh, tài sản, tình hình tài chính của tổ chức đề nghị cấp giấy
chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán.
8. Hành vi “Lập, xác
nhận hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng có sự giả mạo” tại Khoản
3 Điều 5 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP và hành vi “Lập, xác nhận hồ sơ giả mạo để
niêm yết chứng khoán hoặc đăng ký giao dịch chứng khoán” tại Khoản 4 Điều 14 Nghị
định số 108/2013/NĐ-CP là hành vi tạo dựng hoặc xác nhận các tài liệu, thông
tin không có thực hoặc không chính xác để đăng ký chào bán chứng khoán ra công
chúng, đăng ký niêm yết hoặc đăng ký giao dịch chứng khoán.
Khi phát hiện hành vi
quy định tại Khoản 3 Điều 5, Khoản 4 Điều 14 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP, Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán phải lập biên bản thu giữ
giấy tờ thuộc hồ sơ giả mạo. Trong trường hợp giấy tờ giả mạo là giấy phép, Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán phải thông báo bằng văn bản
cho cơ quan cấp giấy phép biết.
Điều 5. Vi phạm quy định
về thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng
1. Hành vi "Sử dụng
thông tin ngoài Bản cáo bạch hoặc thông tin sai lệch với thông tin trong Bản
cáo bạch để thăm dò thị trường trước khi được phép thực hiện chào bán chứng
khoán ra công chúng" tại Điểm a Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP
là việc sử dụng thông tin không có trong Bản cáo bạch hoặc không chính xác so
với nội dung tại Bản cáo bạch trong hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công
chúng để thăm dò thị trường trước khi được phép thực hiện chào bán chứng khoán
ra công chúng.
2. Quy định tại Khoản 5
Điều 6 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP được áp dụng trong trường hợp tổ chức đăng
ký chào bán chứng khoán ra công chúng thực hiện chào bán chứng khoán ra công
chúng khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đang xem xét hồ sơ đăng ký chào bán chứng
khoán ra công chúng của tổ chức đó và chưa cấp giấy chứng nhận chào bán chứng
khoán ra công chúng cho tổ chức đó.
3. Mức tiền phạt áp dụng
đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 5 Điều 6 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP
được tính trên cơ sở khoản thu trái pháp luật từ việc thực hiện hành vi vi
phạm. Khoản thu trái pháp luật là khoản tiền chênh lệch giữa tổng số tiền thu
được từ đợt chào bán và tổng giá trị tính theo giá trị sổ sách của số cổ phần
đã chào bán tại thời điểm chào bán. Trường hợp đã áp dụng mức phạt tối đa là 05
lần khoản thu trái pháp luật mà mức phạt vẫn thấp hơn mức phạt tối đa áp dụng
đối với hành vi chào bán chứng khoán ra công chúng nhưng không đăng ký với Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước quy định tại Điểm c Khoản 4 Điều 6 Nghị định số
108/2013/NĐ-CP thì áp dụng mức phạt tối đa được quy định tại Điểm c Khoản 4
Điều 6 Nghị định 108/2013/NĐ-CP để xử phạt.
Điều 6. Vi phạm quy định
về nộp hồ sơ đăng ký công ty đại chúng
Quy định tại Điểm b
Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP được áp dụng trong trường hợp tổ
chức vi phạm đã được hướng dẫn sửa đổi thông tin không chính xác trong hồ sơ
đăng ký công ty đại chúng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo
yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Điều 7. Vi phạm quy định
về niêm yết, đăng ký giao dịch chứng khoán
Hình thức xử phạt bổ
sung “Đình chỉ hoạt động niêm yết chứng khoán hoặc đăng ký giao dịch chứng
khoán” tại Khoản 5 Điều 14 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP áp dụng đối với hành vi
lập, xác nhận hồ sơ đăng ký niêm yết chứng khoán, đăng ký giao dịch chứng khoán
có thông tin cố ý làm sai sự thật, che giấu sự thật hoặc sai lệch nghiêm trọng
hoặc hành vi lập, xác nhận hồ sơ giả mạo để niêm yết, đăng ký giao dịch chứng
khoán trong trường hợp Sở giao dịch chứng khoán đã chấp thuận niêm yết, đăng ký
giao dịch chứng khoán cho tổ chức vi phạm.
Điều 8. Vi phạm quy định
về tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán
1. Quy định tại Khoản 1
và Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP được áp dụng đối với trường hợp
tổ chức bất kỳ một địa điểm hoặc một hình thức trao đổi thông tin nào để thực
hiện khớp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán ngoài Sở giao dịch chứng
khoán.
2. Trong trường hợp có
khoản thu trái pháp luật, mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định về tổ
chức thị trường giao dịch chứng khoán được tính trên cơ sở toàn bộ các khoản
thu mà tổ chức có được từ việc thực hiện hành vi vi phạm. Trường hợp đã áp dụng
mức phạt tiền tối đa là 05 lần khoản thu trái pháp luật mà mức phạt vẫn thấp
hơn mức phạt tiền tối đa quy định tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định số
108/2013/NĐ-CP thì người có thẩm quyền xử phạt áp dụng mức phạt tối đa quy định
tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP để xử phạt.
Điều 9. Vi phạm quy định
về thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán
1. Hành vi “Sử dụng tên
gọi hoặc thay đổi tên gọi của công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng
giao dịch không đúng quy định pháp luật” tại Khoản 1 Điều 20 Nghị định số
108/2013/NĐ-CP là việc công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư
chứng khoán, chi nhánh công ty chứng khoán hoặc công ty quản lý quỹ nước ngoài
tại Việt Nam sử dụng tên gọi không đúng tên được ghi trong giấy phép thành lập
và hoạt động, giấy chấp thuận mở chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc phòng giao
dịch.
2. “Thực hiện hành vi
làm cho khách hàng và nhà đầu tư hiểu nhầm về giá chứng khoán” tại Điểm a Khoản
3 Điều 21 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP là việc công ty chứng khoán cố ý cung cấp
cho khách hàng và nhà đầu tư thông tin, đưa ra những nhận định, tư vấn hoặc
khuyến cáo không chính xác, không đầy đủ, không có căn cứ, che giấu sự thật về
giá hoặc các yếu tố ảnh hưởng tới giá của một hoặc nhiều loại chứng khoán dẫn
đến khách hàng và nhà đầu tư hiểu nhầm về giá chứng khoán và có quyết định
không đúng trong đầu tư.
Điều 10. Vi phạm quy
định về giao dịch nội bộ và giao dịch thao túng thị trường chứng khoán
1. Số lợi bất hợp pháp
có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 29
Nghị định số 108/2013/NĐ-CP là số lợi phát sinh từ việc thực hiện hành vi giao
dịch nội bộ hoặc giao dịch thao túng thị trường chứng khoán, sau khi trừ đi các
khoản thuế, phí phải nộp. Trường hợp một người dùng nhiều tài khoản để giao
dịch nội bộ hoặc giao dịch thao túng thị trường chứng khoán thì số lợi bất hợp
pháp được tính trên tổng các tài khoản được sử dụng để giao dịch nội bộ hoặc
giao dịch thao túng thị trường chứng khoán. Trường hợp một nhóm người thông đồng,
cấu kết giao dịch nội bộ hoặc giao dịch thao túng thị trường chứng khoán thì số
lợi bất hợp pháp được tính trên từng tài khoản được sử dụng để giao dịch nội bộ
hoặc giao dịch thao túng thị trường chứng khoán.
2. Khi xem xét tính số
lợi bất hợp pháp đối với hành vi giao dịch nội bộ hoặc giao dịch thao túng thị
trường chứng khoán, nếu giá trị số lợi bất hợp pháp hoặc mức độ gây thiệt hại
của hành vi vi phạm đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chuyển hồ sơ
cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định tại Điều 62 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Chương III
THẨM QUYỀN VÀ THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Điều 11. Phân định thẩm
quyền xử phạt
Trường hợp phát hiện hành
vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán,
Chánh Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xử phạt theo thẩm quyền quy định
tại Khoản 1 Điều 37 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP, trừ trường hợp hành vi vi phạm
hành chính được phát hiện qua hoạt động thanh tra chuyên ngành thì thẩm quyền
xử phạt thuộc Trưởng đoàn Thanh tra chuyên ngành của Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước.
Điều 12. Giao quyền xử
phạt, ra quyết định cưỡng chế và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
Chủ tịch Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước và Chánh Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có thể giao cho
cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc
phục hậu quả trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Điều 13. Chuyển hồ sơ vụ
vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự
1. Trong quá trình xem
xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc trong trường hợp
đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm có
dấu hiệu tội phạm, người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi
phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.
Trường hợp cá nhân vi
phạm đang chấp hành quyết định xử phạt, nếu phát hiện hành vi vi phạm có dấu
hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đã
ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định tạm đình chỉ thi
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày
quyết định tạm đình chỉ có hiệu lực thi hành, người đã ra quyết định xử phạt vi
phạm hành chính phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình
sự đồng thời thông báo bằng văn bản cho cá nhân vi phạm biết.
2. Cơ quan tiến hành tố
tụng hình sự có trách nhiệm xem xét, kết luận vụ việc và trả lời kết quả giải
quyết bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển hồ sơ trong thời hạn theo
quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trường hợp không khởi tố vụ án hình sự
thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày có quyết định không khởi tố vụ án hình
sự, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải trả hồ sơ vụ việc cho người có thẩm
quyền xử phạt đã chuyển hồ sơ đến.
3. Trường hợp cơ quan
tiến hành tố tụng hình sự thông báo về quyết định khởi tố vụ án hình sự, người
có thẩm quyền xử phạt phải chuyển hồ sơ gốc vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố
tụng hình sự trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo; trường hợp
đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người ra quyết định xử phạt phải
hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Điều 14. Chuyển giao vụ
việc cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
1. Cơ quan quản lý nhà
nước trong quá trình thanh tra, kiểm tra đối với các cá nhân, tổ chức nếu phát
hiện có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường
chứng khoán nhưng không thuộc thẩm quyền xử phạt của mình thì phải chuyển toàn
bộ hồ sơ vụ việc và đề xuất xử lý bằng văn bản tới Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
để giải quyết.
Hồ sơ bao gồm: Biên bản
ghi nhận về hành vi vi phạm hành chính (bản gốc), tài liệu, dữ liệu, chứng cứ
có liên quan đến hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị
trường chứng khoán thu thập được trong quá trình thanh tra, kiểm tra.
2. Đối với vụ việc vi
phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán do các cơ
quan quản lý nhà nước chuyển đến, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có trách nhiệm
tiếp nhận toàn bộ hồ sơ, tài liệu về vụ việc vi phạm hành chính đó và xử lý như
sau:
a) Trường hợp hồ sơ, tài
liệu, chứng cứ chưa đủ căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính thì xác minh thêm
tình tiết làm căn cứ ra quyết định xử phạt hoặc tiến hành thanh tra, kiểm tra
làm rõ hành vi vi phạm;
b) Trường hợp hồ sơ tài
liệu, biên bản vụ việc vi phạm hành chính chuyển đến đúng thủ tục quy định và
có đủ cơ sở chứng minh, kết luận về hành vi vi phạm hành chính thì lập biên bản
vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt theo quy định pháp luật.
Điều 15. Lập biên bản vi
phạm hành chính và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1. Trường hợp vi phạm
hành chính không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người
lập biên bản thì người lập biên bản phải chuyển toàn bộ hồ sơ vi phạm đến người
có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản
vi phạm hành chính.
Hồ sơ vi phạm bao gồm:
a) Biên bản vi phạm hành
chính (bản gốc);
b) Dự thảo Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính;
c) Các hồ sơ, tài liệu
liên quan đến hành vi vi phạm đó;
d) Biên bản tịch thu
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (nếu có);
đ) Các tài liệu cần
thiết khác.
2. Biên bản vi phạm hành
chính phải ghi đầy đủ các nội dung theo quy định tại Khoản 2 Điều 58 Luật xử lý
vi phạm hành chính. Đối với trường hợp không xác định được chính xác địa điểm
xảy ra vi phạm thì ghi địa điểm nơi xử lý vi phạm. Trường hợp người vi phạm,
đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn tránh
hoặc từ chối ký biên bản thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản,
thu thập bằng chứng vi phạm, ra quyết định xử phạt hoặc chuyển hồ sơ vi phạm
cho người có thẩm quyền xử phạt.
3. Trường hợp hành vi vi
phạm đã bị lập biên bản nhưng chưa ra quyết định xử phạt mà cá nhân, tổ chức
không thực hiện yêu cầu, kết luận, quyết định của Chánh Thanh tra Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước hoặc Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Ủy ban Chứng khoán
Nhà nước, vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm đó thì Chánh Thanh tra Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Ủy ban Chứng khoán
Nhà nước phải báo cáo Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước áp dụng biện pháp
ngăn chặn là tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong lĩnh vực chứng khoán
và thị trường chứng khoán theo thủ tục hành chính quy định tại Điều 125 và Điều
126 Luật xử lý vi phạm hành chính để bảo đảm hành vi vi phạm phải chấm dứt. Đối
với trường hợp này, khi ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, có thể áp
dụng thêm tình tiết tăng nặng quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi
phạm hành chính hoặc xử phạt đối với hành vi không thực hiện yêu cầu, kết luận,
quyết định của đoàn thanh tra theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP trong trường hợp Trưởng đoàn Thanh tra đang thi
hành công vụ.
4. Quyết định xử phạt
phải do Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước hoặc Chánh Thanh tra Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước hoặc Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Ủy ban Chứng khoán
Nhà nước ký và đóng dấu cơ quan Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Điều 16. Công bố thông
tin về quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1. Trong thời hạn 03
ngày làm việc, kể từ ngày ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, Quyết định xử phạt phải được
công bố trên trang thông tin điện tử của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Trường
hợp đối tượng bị xử phạt là thành viên giao dịch, tổ chức niêm yết, tổ chức
đăng ký giao dịch chứng khoán, Quyết định xử phạt phải được công bố đồng thời
trên trang thông tin điện tử của Sở giao dịch chứng khoán.
2. Nội dung thông tin
công bố gồm: họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ
của tổ chức vi phạm, hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp
khắc phục hậu quả.
Chương IV
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Điều 17. Thẩm quyền
quyết định cưỡng chế
1. Chánh Thanh tra Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước ra quyết định cưỡng chế và tổ chức việc cưỡng chế thi
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc
phục hậu quả do mình ban hành.
2. Chủ tịch Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế và tổ chức việc thi hành
cưỡng chế trong các trường hợp sau đây:
a) Quyết định xử phạt vi
phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do mình ban
hành;
b) Quyết định xử phạt vi
phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do Chánh Thanh
tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ban hành nhưng không đủ điều kiện về lực lượng,
phương tiện để tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế và có văn bản đề nghị Chủ
tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ra quyết định cưỡng chế;
c) Quyết định xử phạt vi
phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do Trưởng đoàn
thanh tra chuyên ngành của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ban hành.
Điều 18. Các biện pháp
cưỡng chế
1. Các biện pháp cưỡng
chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán
và thị trường chứng khoán bao gồm:
a) Khấu trừ một phần
tiền lương hoặc một phần thu nhập; khấu trừ tiền từ tài khoản tại ngân hàng;
b) Kê biên tài sản có
giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; kê biên chứng khoán có giá
trị tương ứng với số tiền phạt;
c) Thu tiền, tài sản của
đối tượng bị cưỡng chế do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá
nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản;
d) Áp dụng các biện pháp
cưỡng chế khác để buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại
Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 108/2013/NĐ-CP.
2. Trong trường hợp cá
nhân, tổ chức phải thi hành quyết định cưỡng chế buộc nộp lại số lợi bất hợp
pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế
chưa thực hiện được ngay thì người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế áp
dụng một trong các biện pháp nêu tại các Điểm a, b và c Khoản 1 Điều này.
Chương V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 19. Trách nhiệm
thực hiện
1. Thông tư này có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 03 năm 2014 và thay thế Thông tư số
37/2011/TT-BTC ngày 16 tháng 03 năm 2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành
một số điều của Nghị định số 85/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2010 của Chính
phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường
chứng khoán.
2. Chủ tịch Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo việc xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đảm bảo đúng quy
định của pháp luật.
3. Trong quá trình thực
hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để
xem xét, giải quyết./.
Nơi nhận: |
KT. BỘ TRƯỞNG |