Quy định về Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, nợ ph
Tại Khoản 2.19 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNDN (có hiệu lực thi hành từ ngày 02/08/2014 và áp dụng cho kỳ tính thuế TNDN từ năm 2014 trở đi) quy định khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN:
“Trích, lập và sử dụng các khoản dự phòng không theo đúng hướng dẫn của Bộ
Tài chính về trích lập dự phòng: dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng tổn
thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng bảo
hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp và dự phòng rủi ro nghề nghiệp của
doanh nghiệp thẩm định giá, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập.”
Vậy các khoản trích lập dự phòng này đang được
quy định tại văn bản nào ? và cách thực hiện trích lập như thế nào?
- Văn bản quy định:
+ Thông tư số 228/2009/TT-BTC ngày 7/12/2009. Hiệu lực: 21/01/2010 - hướng
dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn
thất các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng
hóa, công trình xây lắp tại doanh nghiệp
+ Thông tư số 89/2013/TT-BTC ngày 28/6/2013 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ
sung Thông tư số 228/2009/TT-BTC ngày 7/12/2009 của Bộ Tài chính.
- Nội dung:
1. Dự phòng giảm
giá hàng tồn kho: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do giá vật tư, thành
phẩm, hàng hóa tồn kho bị giảm.
2. Dự phòng tổn
thất các khoản đầu tư chính: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do các
loại chứng khoán đầu tư của doanh nghiệp bị giảm giá; giá trị các khoản đầu tư
tài chính bị tổn thất do tổ chức kinh tế mà doanh nghiệp đang đầu tư vào bị lỗ.
3. Dự phòng nợ
phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ
phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có thể không đòi
được do khách nợ không có khả năng thanh toán.
4. Dự phòng bảo
hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp: là dự phòng chi phí cho những
sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp đã bán, đã bàn giao cho người mua nhưng
doanh nghiệp vẫn có nghĩa vụ phải tiếp tục sửa chữa, hoàn thiện theo hợp đồng
hoặc cam kết với khách hàng.
- Nguyên tắc chung trong
trích lập các khoản dự phòng.
1. Các khoản dự phòng
được trích trước vào chi phí hoạt động kinh doanh năm báo cáo của doanh nghiệp,
giúp cho doanh nghiệp có nguồn tài chính để bù đắp tổn thất có thể xảy ra trong
năm kế hoạch, nhằm bảo toàn vốn kinh doanh; đảm bảo cho doanh nghiệp phản ánh
giá trị vật tư hàng hóa tồn kho, các khoản đầu tư tài chính không cao hơn giá
cả trên thị trường và giá trị của các khoản nợ phải thu không cao hơn giá trị
có thể thu hồi được tại thời điểm lập báo cáo tài chính.
2. Thời điểm lập và hoàn
nhập các khoản dự phòng là thời điểm cuối kỳ kế toán năm. Trường hợp doanh
nghiệp được Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng năm tài chính khác với năm dương
lịch (bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc 31/12 hàng năm) thì thời điểm lập và hoàn
nhập các khoản dự phòng là ngày cuối cùng của năm tài chính.
Đối với các doanh nghiệp
niêm yết trên thị trường chứng khoán phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ
thì được trích lập và hoàn nhập dự phòng ở cả thời điểm lập báo cáo tài chính
giữa niên độ.
3. Doanh nghiệp phải xây
dựng cơ chế về quản lý vật tư, hàng hóa, quản lý công nợ để hạn chế các rủi ro
trong kinh doanh. Đối với công nợ, hàng hóa, quy chế phải xác định rõ trách
nhiệm của từng bộ phận, từng người trong việc theo dõi, quản lý hàng hóa, thu
hồi công nợ.
Nghiêm cấm doanh nghiệp
lợi dụng việc trích lập dự phòng để tính thêm vào chi phí các khoản dự phòng
không có đủ căn cứ nhằm làm giảm nghĩa vụ nộp ngân sách. Những doanh nghiệp cố
tình vi phạm sẽ bị xử phạt như hành vi trốn thuế theo quy định của pháp luật
hiện hành.
4. Doanh nghiệp phải lập
Hội đồng để thẩm định mức trích lập các khoản dự phòng và xử lý tổn thất thực
tế của vật tư hàng hóa tồn kho, các khoản đầu tư tài chính, các khoản nợ không
có khả năng thu hồi theo quy định tại Thông tư này và văn bản pháp luật khác có
liên quan. Riêng việc trích lập dự phòng chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa,
công trình xây lắp thì thực hiện theo hợp đồng hoặc cam kết với khách hàng.
Thành phần Hội đồng gồm:
Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc), Kế toán trưởng, các trưởng phòng, ban có liên
quan và một số chuyên gia (nếu cần). Tổng giám đốc (hoặc Giám đốc) doanh nghiệp
quyết định thành lập Hội đồng.
TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG
Căn cứ vào biến động thực tế về giá hàng tồn
kho, giá chứng khoán, giá trị các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi
và cam kết bảo hành sản phẩm, hàng hóa, doanh nghiệp chủ động xác định mức
trích lập, sử dụng từng khoản dự phòng đúng mục đích và xử lý theo các quy định
cụ thể dưới đây:
Dự phòng giảm giá
hàng tồn kho.
1. Đối tượng lập dự phòng bao gồm nguyên vật liệu, dụng cụ
dùng cho sản xuất, vật tư, hàng hóa, thành phẩm tồn kho (gồm cả hàng tồn kho bị
hư hỏng, kém mất phẩm chất, lạc hậu mốt, lạc hậu kỹ thuật, lỗi thời, ứ đọng,
chậm luân chuyển…), sản phẩm dở dang, chi phí dịch vụ dở dang (sau đây gọi tắt
là hàng tồn kho) mà giá gốc ghi trên sổ kế toán cao hơn giá trị thuần có thể
thực hiện được và đảm bảo điều kiện sau:
- Có hóa đơn, chứng từ
hợp pháp theo quy định của Bộ Tài chính hoặc các bằng chứng khác chứng minh giá
vốn hàng tồn kho.
- Là những vật tư hàng
hóa thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp tồn kho tại thời điểm lập báo cáo tài
chính.
Trường hợp nguyên vật
liệu có giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn so với giá gốc nhưng giá
bán sản phẩm dịch vụ được sản xuất từ nguyên vật liệu này không bị giảm giá thì
không được trích lập dự phòng giảm giá nguyên vật liệu tồn kho đó.
2. Phương pháp lập dự
phòng:
Mức trích lập dự phòng
tính theo công thức sau:
Giá gốc hàng tồn kho bao
gồm: chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát
sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại theo quy định
tại Chuẩn mực kế toán số 02 - Hàng tồn kho ban hành kèm theo Quyết định số
149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Giá trị thuần có thể
thực hiện được của hàng tồn kho (giá trị dự kiến thu hồi) là giá bán (ước tính)
của hàng tồn kho trừ (-) chi phí để hoàn thành sản phẩm và chi phí tiêu thụ
(ước tính).
Mức lập dự phòng giảm
giá hàng tồn kho được tính cho từng loại hàng tồn kho bị giảm giá và tổng hợp
toàn bộ vào bảng kê chi tiết. Bảng kê là căn cứ để hạch toán vào giá vốn hàng
bán (giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hóa tiêu thụ trong kỳ) của doanh nghiệp.
Riêng dịch vụ cung cấp
dở dang, việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho tính theo từng loại dịch vụ có
mức giá riêng biệt.
3. Xử lý khoản dự phòng:
Tại thời điểm lập dự
phòng nếu giá gốc của hàng tồn kho cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được
của hàng tồn kho thì phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho theo các quy
định tại điểm 1, điểm 2 Điều này.
- Nếu số dự phòng giảm
giá phải trích lập bằng số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thì doanh
nghiệp không phải trích lập khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho;
- Nếu số dự phòng giảm
giá phải trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thì
doanh nghiệp được trích thêm phần chênh lệch vào giá vốn hàng bán ra trong kỳ.
- Nếu số dự phòng phải
trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thì doanh nghiệp
phải hoàn nhập phần chênh lệch và ghi giảm giá vốn hàng bán.
4. Xử lý hủy bỏ đối với
vật tư, hàng hóa đã trích lập dự phòng:
a) Hàng tồn đọng do hết
hạn sử dụng, mất phẩm chất, dịch bệnh, hư hỏng, do không còn giá trị sử dụng
như: dược phẩm, thực phẩm, vật tư y tế, con giống, vật nuôi, vật tư hàng hóa
khác phải hủy bỏ thì xử lý như sau:
Doanh nghiệp lập Hội
đồng xử lý tài sản để thẩm định tài sản bị hủy bỏ. Biên bản thẩm định phải kê
chi tiết tên, số lượng, giá trị hàng hóa phải hủy bỏ, nguyên nhân phải hủy bỏ,
giá trị thu hồi được do bán thanh lý, giá trị thiệt hại thực tế.
Mức độ tổn thất thực tế
của từng loại hàng tồn đọng không thu hồi được là khoản chênh lệch giữa giá trị
ghi trên sổ kế toán trừ đi giá trị thu hồi do thanh lý (do người gây thiệt hại
đền bù, do bán thanh lý hàng hóa).
b) Thẩm quyền xử lý: Hội
đồng quản trị (đối với doanh nghiệp có Hội đồng quản trị) hoặc Hội đồng thành
viên (đối với doanh nghiệp có Hội đồng thành viên); Tổng giám đốc (hoặc Giám
đốc) đối với doanh nghiệp không có Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên; chủ
doanh nghiệp căn cứ vào Biên bản của Hội đồng xử lý, các bằng chứng liên quan
đến hàng hóa tồn đọng để quyết định xử lý hủy bỏ vật tư, hàng hóa nói trên;
quyết định xử lý trách nhiệm của những người liên quan đến số vật tư, hàng hóa
đó và chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước chủ sở hữu và trước pháp
luật.
c) Xử lý hạch toán:
Giá trị tổn thất thực tế của hàng tồn đọng không
thu hồi được đã có quyết định xử lý hủy bỏ, sau khi bù đắp bằng nguồn dự phòng
giảm giá hàng tồn kho, phần chênh lệch thiếu được hạch toán vào giá vốn hàng
bán của doanh nghiệp.
Dự phòng nợ phải thu khó
đòi.
1. Điều kiện: là các khoản nợ phải thu khó đòi đảm bảo
các điều kiện sau:
- Khoản nợ phải có chứng
từ gốc, có đối chiếu xác nhận của khách nợ về số tiền còn nợ, bao gồm: hợp đồng
kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng, cam kết nợ, đối chiếu công nợ
và các chứng từ khác.
Các khoản không đủ căn
cứ xác định là nợ phải thu theo quy định này phải xử lý như một khoản tổn thất.
- Có đủ căn cứ xác định
là khoản nợ phải thu khó đòi:
+ Nợ phải thu đã quá hạn
thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ hoặc các cam kết nợ
khác.
+ Nợ phải thu chưa đến
thời hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế (các công ty, doanh nghiệp tư nhân,
hợp tác xã, tổ chức tín dụng..) đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ
tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy
tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết.
2. Phương pháp lập dự
phòng:
Doanh nghiệp phải dự
kiến mức tổn thất có thể xảy ra hoặc tuổi nợ quá hạn của các khoản nợ và tiến
hành lập dự phòng cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, kèm theo các chứng cứ
chứng minh các khoản nợ khó đòi nói trên. Trong đó:
- Đối với nợ phải thu
quá hạn thanh toán, mức trích lập dự phòng như sau:
+ 30% giá trị đối với
khoản nợ phải thu quá hạn từ trên 6 tháng đến dưới 1 năm.
+ 50% giá trị đối với
khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm.
+ 70% giá trị đối với
khoản nợ phải thu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm.
+ 100% giá trị đối với
khoản nợ phải thu từ 3 năm trở lên.
- Đối với nợ phải thu
chưa đến hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đã lâm vào tình trạng phá sản
hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan
pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành án hoặc đã chết… thì
doanh nghiệp dự kiến mức tổn thất không thu hồi được để trích lập dự phòng.
- Sau khi lập dự phòng
cho từng khoản nợ phải thu khó đòi, doanh nghiệp tổng hợp toàn bộ khoản dự
phòng các khoản nợ vào bảng kê chi tiết để làm căn cứ hạch toán vào chi phí
quản lý của doanh nghiệp.
3. Xử lý khoản dự phòng:
- Khi các khoản nợ phải
thu được xác định khó đòi, doanh nghiệp phải trích lập dự phòng theo các quy
định tại điểm 2 Điều này; nếu số dự phòng phải trích lập bằng số dư dự phòng nợ
phải thu khó, thì doanh nghiệp không phải trích lập;
- Nếu số dự phòng phải
trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, thì doanh nghiệp
phải trích thêm vào chi phí quản lý doanh nghiệp phần chênh lệch;
- Nếu số dự phòng phải
trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi, thì doanh nghiệp
phải hoàn nhập phần chênh lệch ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp.
4. Xử lý tài chính các
khoản nợ không có khả năng thu hồi:
a) Nợ phải thu không có
khả năng thu hồi bao gồm các khoản nợ sau:
- Đối với tổ chức kinh
tế:
+ Khách nợ đã giải thể,
phá sản: Quyết định của Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo Luật phá sản
hoặc quyết định của người có thẩm quyền về giải thể đối với doanh nghiệp nợ,
trường hợp tự giải thể thì có thông báo của đơn vị hoặc xác nhận của cơ quan
quyết định thành lập đơn vị, tổ chức.
+ Khách nợ đã ngừng hoạt
động và không có khả năng chi trả: Xác nhận của cơ quan quyết định thành lập
doanh nghiệp hoặc tổ chức đăng ký kinh doanh về việc doanh nghiệp, tổ chức đã
ngừng hoạt động không có khả năng thanh toán.
- Đối với cá nhân phải
có một trong các tài liệu sau:
+ Giấy chứng từ (bản
sao) hoặc xác nhận của chính quyền địa phương đối với người nợ đã chết nhưng
không có tài sản thừa kế để trả nợ.
+ Giấy xác nhận của
chính quyền địa phương đối với người nợ còn sống hoặc đã mất tích nhưng không
có khả năng trả nợ.
+ Lệnh truy nã hoặc xác
nhận của cơ quan pháp luật đối với người nợ đã bỏ trốn hoặc đang bị truy tố,
đang thi hành án hoặc xác nhận của chính quyền địa phương về việc khách nợ hoặc
người thừa kế không có khả năng chi trả.
b) Xử lý tài chính:
Tổn thất thực tế của
từng khoản nợ không thu hồi được là khoản chênh lệch giữa nợ phải thu ghi trên
sổ kế toán và số tiền đã thu hồi được (do người gây ra thiệt hại đền bù, do
phát mại tài sản của đơn vị nợ hoặc người nợ, do được chia tài sản theo quyết
định của tòa án hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác…).
Giá trị tổn thất thực tế
của khoản nợ không có khả năng thu hồi, doanh nghiệp sử dụng nguồn dự phòng nợ
phải thu khó đòi, quỹ dự phòng tài chính (nếu có) để bù đắp, phần chênh lệch
thiếu hạch toán vào chi phí quản lý của doanh nghiệp.
Các khoản nợ phải thu
sau khi đã có quyết định xử lý, doanh nghiệp vẫn phải theo dõi riêng trên sổ kế
toán và được phản ánh ở ngoài bảng cân đối kế toán trong thời hạn tối thiểu là
10 năm, tối đa là 15 năm kể từ ngày thực hiện xử lý và tiếp tục có các biện
pháp để thu hồi nợ. Nếu thu hồi được nợ thì số tiền thu hồi sau khi trừ các chi
phí có liên quan đến việc thu hồi nợ, doanh nghiệp hạch toán vào thu nhập khác.
c) Khi xử lý khoản nợ
phải thu không có khả năng thu hồi doanh nghiệp phải lập hồ sơ sau:
- Biên bản của Hội đồng
xử lý nợ của doanh nghiệp. Trong đó ghi rõ giá trị của từng khoản nợ phải thu,
giá trị nợ đã thu hồi được, giá trị thiệt hại thực tế (sau khi đã trừ đi các
khoản thu hồi được).
- Bảng kê chi tiết các
khoản nợ phải thu đã xóa để làm căn cứ hạch toán, biên bản đối chiếu nợ được
chủ nợ và khách nợ xác nhận hoặc Bản thanh lý hợp đồng kinh tế hoặc xác nhận
của cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp, tổ chức hoặc các tài liệu khách quan
khác chứng minh được số nợ tồn đọng và các giấy tờ tài liệu liên quan.
- Sổ kế toán, chứng từ,
tài liệu chứng minh khoản nợ chưa thu hồi được, đến thời điểm xử lý nợ doanh
nghiệp đang hạch toán nợ phải thu trên sổ kế toán của doanh nghiệp.
d) Thẩm quyền xử lý nợ:
Hội đồng quản trị (đối
với doanh nghiệp có Hội đồng quản trị) hoặc Hội đồng thành viên (đối với doanh
nghiệp có Hội đồng thành viên); Tổng giám đốc, Giám đốc (đối với doanh nghiệp
không có Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên) hoặc chủ doanh nghiệp căn
cứ vào Biên bản của Hội đồng xử lý, các bằng chứng liên quan đến các khoản nợ
để quyết định xử lý những khoản nợ phải thu không thu hồi được và chịu trách
nhiệm về quyết định của mình trước pháp luật, đồng thời thực hiện các biện pháp
xử lý trách nhiệm theo chế độ hiện hành.
Dự phòng bảo hành sản
phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp.
1. Đối tượng và điều
kiện lập dự phòng: là những sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp do doanh
nghiệp thực hiện và đã bán hoặc bàn giao trong năm được doanh nghiệp cam kết
bảo hành tại hợp đồng hoặc các văn bản quy định khác.
2. Phương pháp lập dự
phòng:
Doanh nghiệp dự kiến mức
tổn thất trích bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp đã tiêu thụ
trong năm và tiến hành lập dự phòng cho từng loại sản phẩm, hàng hóa, công
trình xây lắp có cam kết bảo hành. Tổng mức trích lập dự phòng bảo hành của các
sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp theo quy định đã cam kết với khách hàng
nhưng tối đa không vượt quá 5% tổng doanh thu tiêu thụ đối với các sản phẩm,
hàng hóa và không quá 5% trên tổng giá trị công trình đối với các công trình
xây lắp.
Sau khi lập dự phòng cho
từng loại sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp doanh nghiệp tổng hợp toàn bộ
khoản dự phòng vào bảng kê chi tiết. Bảng kê chi tiết là căn cứ để hạch toán:
- Đối với dự phòng bảo
hành sản phẩm, hàng hóa khi trích lập hạch toán vào chi phí bán hàng.
- Đối với dự phòng bảo
hành công trình xây lắp khi trích lập hạch toán vào chi phí sản xuất chung.
3. Xử lý khoản dự phòng:
Tại thời điểm lập dự
phòng nếu số thực chi bảo hành lớn hơn số đã trích lập dự phòng thì phần chênh
lệch thiếu được hạch toán vào chi phí bán hàng. Nếu số dự phòng bảo hành phải
trích lập bằng số dư của khoản dự phòng, thì doanh nghiệp không phải trích lập
khoản dự phòng bảo hành;
Nếu số dự phòng bảo hành
phải trích lập cao hơn số dư của khoản dự phòng bảo hành, thì doanh nghiệp
trích thêm vào chi phí bán hàng đối với dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa
hoặc chi phí sản xuất chung đối với dự phòng bảo hành công trình xây lắp của
doanh nghiệp phần chênh lệch này.
Nếu số dự phòng phải
trích lập thấp hơn số dư của khoản dự phòng, thì doanh nghiệp hoàn nhập phần
chênh lệch:
- Đối với dự phòng bảo
hành sản phẩm, hàng hóa ghi giảm chi phí bán hàng.
- Đối với dự phòng bảo
hành công trình xây lắp hạch toán vào thu nhập khác.
Hết thời hạn bảo hành,
nếu không phải chi bảo hành hoặc không sử dụng hết số tiền dự phòng đã trích
lập, số dư còn lại được hoàn nhập theo nguyên tắc trên.
Dự phòng tổn thất
các khoản đầu tư tài chính.
1. Đối với các khoản đầu
tư chứng khoán:
a) Đối tượng: là các
chứng khoán có đủ các điều kiện sau:
- Là các loại chứng
khoán được doanh nghiệp đầu tư theo đúng quy định của pháp luật.
- Được tự do mua bán
trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập báo cáo tài chính có giá thị
trường giảm so với giá đang hạch toán trên sổ kế toán.
Những chứng khoán không
được phép mua bán tự do trên thị trường như các chứng khoán bị hạn chế chuyển
nhượng theo quy định của pháp luật; cổ phiếu quỹ thì không được lập dự phòng
giảm giá.
Các tổ chức đăng ký hoạt
động kinh doanh chứng khoán như các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ
được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật chứng khoán, việc trích lập
dự phòng giảm giá chứng khoán thực hiện theo quy định riêng.
b) Phương pháp lập dự
phòng:
Mức trích lập dự phòng
giảm giá đầu tư chứng khoán được tính theo công thức sau:
- Đối với chứng khoán đã
niêm yết: giá chứng khoán thực tế trên thị trường được tính theo giá thực tế
trên các Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) là giá giao dịch bình quân tại
ngày trích lập dự phòng; Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)
là giá đóng cửa tại ngày trích lập dự phòng.
- Đối với các loại chứng
khoán chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, giá chứng khoán thực tế trên
thị trường được xác định như sau:
+ Đối với các Công ty đã
đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch của các công ty đại chúng chưa niêm
yết (UPCom) thì giá chứng khoán thực tế trên thị trường được xác định là giá
giao dịch bình quân trên hệ thống tại ngày lập dự phòng.
+ Đối với các Công ty
chưa đăng ký giao dịch ở thị trường giao dịch của các công ty đại chúng thì giá
chứng khoán thực tế trên thị trường được xác định là giá trung bình trên cơ sở
giá giao dịch được cung cấp tối thiểu bởi ba (03) công ty chứng khoán tại thời
điểm lập dự phòng.
Trường hợp không thể xác
định được giá trị thị trường của chứng khoán thì các doanh nghiệp không được
trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán.
- Đối với những chứng
khoán niêm yết bị hủy giao dịch, ngừng giao dịch kể từ ngày giao dịch thứ sáu
trở đi là giá trị sổ sách tại ngày lập bảng cân đối kế toán gần nhất.
Doanh nghiệp phải lập dự
phòng riêng cho từng loại chứng khoán đầu tư, có biến động giảm giá tại thời
điểm lập báo cáo tài chính và được tổng hợp vào bảng kê chi tiết dự phòng giảm
giá chứng khoán đầu tư, làm căn cứ hạch toán vào chi phí tài chính của doanh
nghiệp.
c) Xử lý khoản dự phòng:
Tại thời điểm lập dự
phòng nếu các chứng khoán do doanh nghiệp đầu tư bị giảm giá so với giá đang
hạch toán trên sổ kế toán thì phải trích lập dự phòng theo các quy định tại
tiết b điểm 1 Điều này;
Nếu số dự phòng phải
trích lập bằng số dư khoản dự phòng, thì doanh nghiệp không phải trích lập
khoản dự phòng;
Nếu số dự phòng phải
trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng, thì doanh nghiệp trích thêm vào chi phí
tài chính của doanh nghiệp phần chênh lệch.
Nếu số dự phòng phải
trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng, thì doanh nghiệp phải hoàn nhập phần
chênh lệch ghi giảm chi phí tài chính.
2. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn:
a) Đối tượng: là các
khoản vốn doanh nghiệp đang đầu tư vào tổ chức kinh tế được thành lập theo quy
định của pháp luật (bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần không
đủ điều kiện để trích lập dự phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư số
228/2009/TT-BTC ngày 7/12/2009 của Bộ Tài chính, công ty liên doanh, công ty hợp
danh) và các khoản đầu tư dài hạn khác phải trích lập dự phòng nếu tổ chức kinh
tế mà doanh nghiệp đang đầu tư bị lỗ (trừ trường hợp lỗ theo kế hoạch đã được
xác định trong phương án kinh doanh trước khi đầu tư).
Việc trích lập dự phòng
đầu tư dài hạn được thực hiện đối với các khoản đầu tư được trình bày theo
phương pháp giá gốc, không áp dụng cho các khoản đầu tư trình bày theo phương
pháp vốn chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
b) Điều kiện: Doanh
nghiệp chỉ thực hiện trích lập dự phòng khi tổng số vốn đầu tư thực tế của chủ
sở hữu cao hơn tổng giá trị vốn chủ sở hữu thực có của tổ chức kinh tế được đầu
tư.
c) Phương pháp trích lập
dự phòng:
Mức trích cho mỗi khoản
đầu tư tài chính bằng số vốn đã đầu tư và tính theo công thức sau:
Trong đó:
- Tổng vốn đầu tư thực
tế của các bên tại tổ chức kinh tế được xác định trên Bảng cân đối kế toán năm
của tổ chức kinh tế nhận vốn góp tại thời điểm trích lập dự phòng.
- Vốn chủ sở hữu thực có
của tổ chức kinh tế được xác định trên Bảng cân đối kế toán năm của tổ chức
kinh tế tại thời điểm trích lập dự phòng.
Ví dụ: Công ty A là công
ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực xây dựng có mức vốn điều lệ là 50 tỷ đồng,
với cơ cấu 3 cổ đông góp vốn là: Công ty B nắm giữ 50% vốn điều lệ tương ứng 25
tỷ đồng; Công ty C nắm giữ 30% vốn điều lệ tương ứng 15 tỷ đồng, Công ty D nắm
giữ 20% vốn điều lệ tương ứng 10 tỷ đồng. Các công ty đã đầu tư đủ vốn theo tỷ
lệ nắm giữ vốn điều lệ, vì vậy tổng vốn đầu tư của 3 Công ty B, C, D tại Công
ty A là 50 tỷ đồng.
Năm 2012, do suy thoái
kinh tế nên kết quả hoạt động SXKD của công ty A bị lỗ 6 tỷ đồng, dẫn đến vốn
chủ sở hữu (mã số 410 của Bảng cân đối kế toán) của Công ty A còn lại 44 tỷ
đồng.
Như vậy, năm 2012 khi
Công ty B, Công ty C, Công ty D thực hiện trích lập dự phòng khoản đầu tư tài
chính tại Công ty A phải căn cứ vào báo cáo tài chính năm 2012 của Công ty A,
mức trích lập dự phòng tổn thất khoản đầu tư tài chính tại Công ty cổ phần A
của các Công ty như sau:
Mức trích lập dự phòng
đầu tư tài chính của Công ty B:
(50 tỷ đồng - 44 tỷ
đồng) x 25/50 = 3 tỷ đồng.
Mức trích lập dự phòng
đầu tư tài chính của Công ty C:
(50 tỷ đồng - 44 tỷ
đồng) x 15/50 = 1,8 tỷ đồng
Mức trích lập dự phòng
đầu tư tài chính của Công ty D:
(50 tỷ đồng - 44 tỷ
đồng) x 10/50 = 1,2 tỷ đồng
d. Xử lý khoản dự phòng:
Tại thời điểm lập dự
phòng nếu các khoản vốn đầu tư vào tổ chức kinh tế bị tổn thất do tổ chức kinh
tế bị lỗ thì phải trích lập dự phòng tổn thất các đầu tư tài chính theo các quy
định tại tiết c Điều này;
Nếu số dự phòng tổn thất
đầu tư tài chính phải trích lập bằng số dư khoản dự phòng, thì doanh nghiệp không
phải trích lập khoản dự phòng tổn thất đầu tư tài chính;
Nếu số dự phòng phải
trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng, thì doanh nghiệp trích thêm vào chi phí
tài chính của doanh nghiệp phần chênh lệch.
Nếu số dự phòng phải
trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng, thì doanh nghiệp phải hoàn nhập phần
chênh lệch ghi giảm chi phí tài chính.