Thông tư số 205/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính, 24/12/2013
Thông tư số 205/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính : Hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ có hiệu lực thi hành tại Việt Namiv class="Section1">
BỘ TÀI
CHÍNH Số:
205/2013/TT-BTC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT Hà Nội, ngày 24 tháng
12 năm 2013 |
THÔNG TƯ
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CÁC HIỆP ĐỊNH TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI
LẦN
VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH
VÀO THU NHẬP
VÀ TÀI SẢN GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ CÓ
HIỆU LỰC THI HÀNH
TẠI VIỆT
Căn cứ các văn bản pháp luật hiện hành về thuế thu nhập
doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân;
Căn cứ Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế
số 41/2005/QH11 ngày 14/6/2005;
Căn cứ các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa
trốn lậu đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với
các nước và vùng lãnh thổ đang có hiệu lực thi hành;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Bộ Tài chính;
Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục
Thuế;
Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn những
nội dung cơ bản của các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn
lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với
các nước và vùng lãnh thổ (dưới đây gọi chung là Nước ký kết hoặc nước tùy theo
ngữ cảnh) có hiệu lực thi hành tại Việt Nam (dưới đây gọi tắt là Hiệp
định).
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Mục 1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG
Điều 1. Đối tượng áp dụng
Thông tư này điều chỉnh các đối tượng là đối tượng cư trú
của Việt Nam hoặc của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam hoặc đồng thời là đối
tượng cư trú của Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt
Nam.
1. Theo Hiệp định, thuật ngữ “đối tượng cư trú của một Nước
ký kết” là đối tượng mà theo luật của một Nước ký kết là đối tượng chịu thuế tại
nước đó do:
1.1. Có nhà ở, có thời gian cư trú tại nước đó hoặc các
tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối tượng đó là một cá nhân;
hoặc
1.2. Có trụ sở điều hành, trụ sở đăng ký, hoặc được thành
lập tại nước đó hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối
tượng đó là một tổ chức; hoặc
1.3. Thuật ngữ này cũng bao gồm cả Nhà nước hoặc chính
quyền địa phương của nước đó, trong trường hợp Hiệp định có quy
định.
2. Theo quy định pháp luật hiện hành về thuế ở Việt
2.1. Các cá nhân là người đáp ứng một trong các điều kiện
sau đây:
a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một
năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt
Nam;
Cá nhân có mặt tại Việt
b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt
- Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật
về cư trú;
- Có nhà thuê để ở tại Việt
Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo
quy định tại điểm này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm
tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là đối tượng cư trú của nước nào thì
cá nhân đó là đối tượng cư trú tại Việt Nam.
Ví dụ 1: Trong năm 2010, một chuyên gia Nhật Bản sang làm
việc tại Việt
2.2. Các tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật tại
Việt
3. Trường hợp căn cứ vào quy định tại các Khoản 1 và 2 của
Điều này, nếu một đối tượng vừa là đối tượng cư trú của Việt
3.1. Đối với cá nhân:
Căn cứ vào các tiêu thức theo thứ tự ưu tiên dưới đây để
xác định một cá nhân là đối tượng cư trú của Việt
a) Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú ở Việt
b) Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú tại cả hai nước nhưng
cá nhân đó có quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn tại Việt Nam như: có việc làm; có địa
điểm kinh doanh; nơi quản lý tài sản cá nhân; hoặc có quan hệ cá nhân chặt chẽ
hơn tại Việt Nam như quan hệ gia đình (người thân như bố, mẹ, vợ/chồng, con,
...), xã hội (hội viên các đoàn thể xã hội, hiệp hội nghề nghiệp,
...);
c) Nếu không xác định được cá nhân đó có quan hệ kinh tế,
quan hệ cá nhân tại nước nào chặt chẽ hơn hoặc nếu cá nhân đó không có nhà ở
thường trú ở nước nào, nhưng cá nhân đó có thời gian có mặt tại Việt Nam nhiều
hơn trong năm tính thuế;
d) Nếu cá nhân đó thường xuyên có mặt ở cả Việt Nam và Nước
ký kết Hiệp định với Việt Nam cũng như không có mặt thường xuyên ở cả hai nước
nhưng cá nhân đó mang quốc tịch Việt Nam hoặc được xác định là công dân Việt Nam
theo nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu Việt Nam;
đ) Nếu cá nhân đó vừa mang quốc tịch Việt Nam vừa mang quốc
tịch Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam hoặc không mang quốc tịch cả hai nước
thì Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam sẽ giải quyết vấn đề này thông qua
thủ tục thỏa thuận song phương với Nhà chức trách có thẩm quyền của Nước ký kết
Hiệp định với Việt Nam.
3.2. Đối với một đối tượng không phải là cá
nhân:
Tùy theo quy định cụ thể tại mỗi Hiệp định để xác định một
đối tượng không phải là cá nhân là đối tượng cư trú của Việt
a) Nếu đối tượng đó được thành lập hoặc đăng ký hoạt động
tại Việt
b) Nếu đối tượng đó có trụ sở chính tại Việt
c) Nếu đối tượng đó có trụ sở điều hành thực tế tại Việt
Nam thì đối tượng đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam (trụ sở điều hành
thực tế thường là nơi các cán bộ cao cấp hoặc ban lãnh đạo của doanh nghiệp tiến
hành họp, xem xét, thảo luận và đưa ra các quyết định quản lý hoặc các quyết
định về sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoặc nơi các sổ sách kế toán quan
trọng nhất được lưu giữ); hoặc
d) Trường hợp đối tượng đó thành lập hoặc đăng ký tại cả
hai nước hoặc có trụ sở chính, hoặc trụ sở điều hành thực tế tại cả hai nước thì
nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam và Nhà chức trách có thẩm quyền của
Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam sẽ xác định đối tượng đó chỉ là đối tượng cư
trú của một trong hai nước thông qua thủ tục thỏa thuận song phương. Trường hợp
hai Nước ký kết không đạt được thỏa thuận chung, đối tượng đó không được coi là
đối tượng cư trú thuế của bất kỳ nước nào vì mục đích áp dụng Hiệp
định.
Các quy định về đối tượng cư trú như trên được nêu tại Điều
khoản Đối tượng cư trú (thường là Điều 4) của Hiệp định.
Điều 2. Các loại thuế áp dụng
Các loại thuế áp dụng trong các Hiệp định là các loại thuế
đánh vào thu nhập và tài sản được quy định cụ thể tại từng Hiệp
định.
1. Trong trường hợp của Việt
a) Thuế thu nhập doanh nghiệp; và
b) Thuế thu nhập cá nhân.
2. Trong trường hợp của các Nước ký kết Hiệp định với Việt
Nam, các loại thuế áp dụng Hiệp định được quy định cụ thể tại Điều 2 của Hiệp
định (thường là Khoản 3 của Điều 2).
Ví dụ 2: Tại Điều 2, Khoản 3, Điểm b) Hiệp định giữa Việt
“3. Những loại thuế hiện hành được áp dụng trong Hiệp định
là:
...
b) Tại nước N:
i) thuế thu nhập;
ii) thuế công ty; và
iii) các loại thuế cư trú của địa phương đánh trên thu
nhập.”
Theo quy định nêu trên, trường hợp một địa phương của nước
N có một loại thuế cư trú địa phương đánh trên thu nhập của các đối tượng cư trú
và không cư trú của nước N thì loại thuế cư trú địa phương đánh trên thu nhập đó
sẽ thuộc phạm vi áp dụng Hiệp định giữa Việt Nam và nước N.
Điều 3. Miễn trừ đối với các thành viên cơ quan đại diện
ngoại giao, cơ quan lãnh sự
Theo Hiệp định, các quy định tại Hiệp định sẽ không ảnh
hưởng đến quyền miễn trừ của các thành viên cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan
lãnh sự được quy định trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.
Quy định về miễn trừ đối với các thành viên cơ quan đại
diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự như trên được nêu tại Điều khoản Các thành viên
cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh sự (thường là Điều 27) của Hiệp
định.
Mục 2. NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG HIỆP ĐỊNH
Điều 4. Nguyên tắc áp dụng Hiệp định
Khi áp dụng, xử lý thuế đối với từng trường hợp phải căn cứ
theo quy định tại từng Hiệp định (bao gồm cả Nghị định thư và/hoặc Thư trao đổi
nếu có).
Điều 5. Áp dụng Hiệp định, luật thuế và các luật có liên
quan
1. Trường hợp có sự khác nhau giữa các quy định tại Hiệp
định và các quy định tại luật thuế trong nước thì sẽ áp dụng theo các quy định
của Hiệp định.
2. Hiệp định không tạo ra các nghĩa vụ thuế mới, khác hoặc
nặng hơn so với luật thuế trong nước. Trường hợp tại Hiệp định có các quy định
theo đó Việt Nam có quyền thu thuế đối với một loại thu nhập nào đó hoặc thu
thuế với một mức thuế suất nhất định nhưng pháp luật hiện hành về thuế ở Việt
Nam chưa có quy định thu thuế đối với thu nhập đó hoặc quy định thu với mức thuế
suất thấp hơn thì áp dụng theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt
Nam, nghĩa là không thu thuế hoặc thu thuế với mức thuế suất thấp
hơn.
3. Khi Việt Nam thực hiện các quy định tại Hiệp định, nếu
có các thuật ngữ chưa được định nghĩa tại Hiệp định, thì các thuật ngữ chưa được
định nghĩa sẽ có nghĩa như quy định tại pháp luật của Việt Nam cho các mục đích
thuế tại thời điểm đó. Đối với một thuật ngữ chưa được định nghĩa tại Hiệp định
và chưa được định nghĩa hoặc đồng thời được định nghĩa tại pháp luật của Việt
Nam và của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thì Nhà chức trách có thẩm quyền
của hai nước sẽ thực hiện giải quyết vấn đề qua thủ tục thỏa thuận song phương.
Đối với một thuật ngữ đồng thời được định nghĩa tại pháp luật thuế và các pháp
luật khác, định nghĩa tại pháp luật thuế sẽ được áp dụng để thực hiện Hiệp
định.
Điều 6. Một số trường hợp từ chối áp dụng Hiệp định trên cơ
sở nguyên tắc hưởng lợi Hiệp định
Trừ khi được quy định khác tại Hiệp định về giới hạn hưởng
lợi Hiệp định, Cơ quan thuế Việt
1. Người đề nghị đề nghị áp dụng Hiệp định đối với số thuế
đã phát sinh quá ba năm trước thời điểm đề nghị áp dụng Hiệp
định.
Ví dụ 3: Trong giai đoạn từ 2006 đến 2012, doanh nghiệp V
của Việt Nam hàng năm có thu nhập từ tiền bản quyền tại Ma-lai-xi-a và hàng năm
đều đã nộp thuế tại Ma-lai-xi-a theo quy định tại Hiệp định giữa Việt Nam và
Ma-lai-xi-a. Vào ngày 01/10/2012, doanh nghiệp V nộp hồ sơ đề nghị khấu trừ thuế
theo Hiệp định giữa Việt
2. Khi mục đích chính của các hợp đồng hoặc các thỏa thuận
là để được hưởng miễn hoặc giảm thuế theo Hiệp định.
3. Người đề nghị áp dụng Hiệp định không phải là người chủ
sở hữu thực hưởng của khoản thu nhập mà số thuế liên quan đến khoản thu nhập đó
được đề nghị miễn, giảm theo Hiệp định. Người chủ sở hữu thực hưởng có thể là
một cá nhân, một công ty hoặc một tổ chức nhưng phải là đối tượng có quyền sở
hữu và kiểm soát đối với thu nhập, tài sản, hoặc các quyền tạo ra thu nhập. Khi
xem xét để xác định một đối tượng là một người chủ sở hữu thực hưởng, Cơ quan
thuế sẽ xem xét toàn bộ các yếu tố và hoàn cảnh liên quan đến đối tượng đó trên
cơ sở nguyên tắc “bản chất quyết định hình thức” vì mục tiêu của Hiệp định là
tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế. Trong các trường hợp
sau đây, một đối tượng sẽ không được coi là một người chủ sở hữu thực
hưởng:
a) Khi người đề nghị là một đối tượng không cư trú có nghĩa
vụ phân phối hơn 50% thu nhập của mình cho một đối tượng cư trú của nước thứ ba
trong phạm vi 12 tháng kể từ khi nhận được thu nhập;
b) Khi người đề nghị là một đối tượng không cư trú không có
(hoặc hầu như không có) bất kỳ hoạt động kinh doanh nào trừ quyền sở hữu đối với
tài sản hoặc các quyền tạo ra thu nhập;
c) Khi người đề nghị là một đối tượng không cư trú có hoạt
động kinh doanh, nhưng số lượng tài sản, qui mô kinh doanh hoặc số lượng nhân
viên không tương xứng với thu nhập nhận được;
Ví dụ 4: Một ngân hàng của một nước không có Hiệp định với
Việt
d) Khi người đề nghị là một đối tượng không cư trú không có
(hoặc hầu như không có) quyền kiểm soát hoặc định đoạt và không phải gánh chịu
hoặc gánh chịu rất ít rủi ro đối với thu nhập, hoặc tài sản hoặc các quyền tạo
ra thu nhập;
đ) Khi các thỏa thuận cho vay hoặc cung cấp bản quyền hoặc
cung cấp dịch vụ kỹ thuật giữa người đề nghị là một đối tượng không cư trú và
các đối tượng tại Việt Nam bao gồm các điều kiện và điều khoản trong một thỏa
thuận khác mà người đề nghị đang có với một bên thứ ba nhưng trong thỏa thuận
khác đó người đề nghị là người nhận khoản vay, bản quyền hoặc dịch vụ kỹ
thuật;
e) Khi người đề nghị là một đối tượng cư trú của một nước
hoặc vùng lãnh thổ không thu thuế thu nhập hoặc thu thuế thu nhập với mức thuế
suất thấp (dưới 10%) không phải với các lý do khuyến khích đầu tư được quy định
tại Hiệp định;
g) Khi người đề nghị là một đại lý, một công ty trung gian
(trừ trường hợp một đại lý, một công ty trung gian đề nghị áp dụng Hiệp định
theo ủy quyền của một chủ sở hữu thực hưởng).
Một đại lý trung gian hoặc một công ty trung gian là một
công ty được thành lập tại một Nước ký kết chỉ để có một hình thức pháp lý cần
thiết tồn tại chỉ cho mục đích tránh hoặc giảm thuế hoặc chuyển lợi nhuận mà
không tham gia vào các hoạt động kinh doanh thiết yếu như sản xuất, thương mại
hoặc cung cấp dịch vụ.
Điều 7. Thủ tục giải quyết khiếu nại theo Hiệp
định
Thủ tục giải quyết khiếu nại theo Hiệp định được nêu tại
Điều khoản Thủ tục thỏa thuận song phương (thường là Điều 25) của Hiệp
định.
1. Đối với các đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định
với Việt
1.1. Trường hợp một đối tượng cư trú của Nước ký kết (sau
đây tại Điều này gọi là người khiếu nại) cho rằng Cơ quan thuế Việt Nam xác định
nghĩa vụ thuế của mình không phù hợp với quy định của Hiệp định, đối tượng đó có
thể khiếu nại theo trình tự quy định của luật thuế hoặc các văn bản về giải
quyết khiếu nại của Việt Nam.
1.2. Người khiếu nại có thể không tiến hành khiếu nại theo
trình tự nêu tại Điểm 1.1 trên đây mà trực tiếp khiếu nại lên Nhà chức trách có
thẩm quyền của Việt Nam quy định tại Điều 51 Thông tư này hoặc Nhà chức trách có
thẩm quyền của Nước ký kết nơi người khiếu nại là đối tượng cư trú thuế để xúc
tiến quá trình thủ tục thỏa thuận song phương theo quy định tại Hiệp định. Trong
trường hợp này, việc khiếu nại phải được tiến hành trong vòng ba năm kể từ ngày
có thông báo đầu tiên của Cơ quan thuế dẫn đến việc xử lý thuế mà người khiếu
nại cho là không đúng với Hiệp định.
Ví dụ 5: Ngày 01/6/2012, ông A, một đối tượng cư trú của
Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam nhận được quyết định xử lý về thuế thu nhập
cá nhân của Cục Thuế tỉnh H và ông cho rằng nghĩa vụ thuế ghi tại quyết định xử
lý về thuế không đúng với quy định của Hiệp định. Sau khi thực hiện đầy đủ các
nghĩa vụ nêu tại quyết định xử lý về thuế, ông A có quyền khiếu nại trực tiếp
lên Tổng cục Thuế - với tư cách Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam - để
giải quyết trường hợp của ông. Thời hạn để ông A có thể tiến hành đệ đơn khiếu
nại là 3 năm kể từ ngày 01/6/2012.
1.3. Để tiến hành khiếu nại theo các quy định tại các Điểm
1.1 và 1.2 Khoản này, người khiếu nại phải thực hiện đúng các quy định dưới
đây:
a) Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã được thông báo tại các
quyết định xử lý về thuế (là các quyết định hành chính thuế, thông báo thuế,
...) của Cơ quan thuế trước và trong quá trình khiếu nại. Trường hợp khiếu nại
về số tiền thuế do cơ quan quản lý thuế tính hoặc ấn định, người khiếu nại vẫn
phải nộp đủ số tiền thuế đó, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết
định tạm đình chỉ thực hiện quyết định tính thuế, quyết định ấn định thuế của cơ
quan quản lý thuế.
b) Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt
2. Đối với các đối tượng cư trú của Việt
Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam cho rằng một
Nước ký kết xác định nghĩa vụ thuế của mình không phù hợp với quy định của Hiệp
định đối tượng đó có thể đề nghị Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam xúc
tiến quá trình thủ tục thỏa thuận song phương theo quy định tại Hiệp định. Trước
khi đề nghị Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam xúc tiến quá trình thủ tục
thỏa thuận song phương, người khiếu nại phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã
được thông báo tại các quyết định xử lý về thuế của Cơ quan thuế Việt Nam và
Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam nếu pháp luật của nước đó yêu cầu. Việc đề
nghị Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện thủ tục thỏa thuận song
phương phải được tiến hành trong phạm vi ba năm kể từ ngày Nước ký kết Hiệp định
với Việt Nam ban hành các quyết định xử lý về thuế mà đối tượng cư trú của Việt
Nam cho rằng không phù hợp với quy định của Hiệp định.
Chương II
THUẾ ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THU NHẬP
Mục 1. THU NHẬP TỪ BẤT ĐỘNG SẢN
Điều 8. Định nghĩa bất động sản
Theo quy định tại Hiệp định, thuật ngữ bất động sản sẽ có
nghĩa theo luật của Nước ký kết nơi có bất động sản và bao gồm các phần tài sản
phụ kèm theo bất động sản, đàn gia súc và thiết bị sử dụng trong nông nghiệp và
lâm nghiệp, các quyền lợi được áp dụng theo pháp luật về đất đai, quyền sử dụng
bất động sản, quyền được hưởng các khoản thanh toán trả cho việc khai thác hoặc
quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên. Các loại tàu thuỷ, thuyền, máy bay không
được coi là bất động sản.
Cụ thể, trong trường hợp của Việt
- Các loại tài sản được quy định tại định nghĩa về bất động
sản theo quy định của Bộ Luật Dân sự và Luật Kinh doanh bất động
sản;
- Các tài sản phụ kèm theo bất động sản nêu
trên;
- Đàn gia súc và thiết bị sử dụng trong nông nghiệp và lâm
nghiệp;
- Các quyền lợi được áp dụng theo quy định tại pháp luật về
đất đai ở Việt
- Quyền được hưởng các khoản thanh toán trả cho việc khai
thác hoặc quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Ví dụ 6: Một đối tượng cư trú nước ngoài sẽ được coi là có
bất động sản tại Việt Nam nếu đối tượng đó sở hữu các tài sản không di dời được
tại Việt Nam như nhà ở, công trình xây dựng gắn liều với đất đai, kể cả tài sản
gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó, hoặc có quyền sử dụng đất tại Việt Nam
(theo Điều 174: Bất động sản và động sản của Bộ luật Dân sự năm 2005) và nếu đối
tượng đó có một đàn gia súc tại Việt Nam liên quan trực tiếp đến quyền sử dụng
đất này thì đàn gia súc đó cũng được coi là bất động sản tại Việt
Nam.
Điều 9. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ bất động
sản
Theo quy định tại Hiệp định, tất cả các loại thu nhập do
một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thu được từ việc
trực tiếp sử dụng, khai thác hoặc cho thuê các loại bất động sản tại Việt Nam,
kể cả bất động sản của doanh nghiệp hoặc của cá nhân hành nghề độc lập, phải nộp
thuế thu nhập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt
Nam.
Ví dụ 7: Một Việt kiều X là một đối tượng cư trú của
Xinh-ga-po sở hữu một căn nhà tại Việt
Các quy định về thuế đối với thu nhập từ bất động sản như
trên được nêu tại Điều khoản Thu nhập từ bất động sản (thường là Điều 6) của
Hiệp định.
Mục 2. THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Điều 10. Định nghĩa thu nhập từ hoạt động kinh
doanh
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ hoạt động kinh
doanh là thu nhập của các doanh nghiệp của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam
(sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt
Nam, không bao gồm các khoản thu nhập được nêu tại Mục 1, và các mục từ Mục 3
đến Mục 17 Chương II, Thông tư này.
Điều 11. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ hoạt
động kinh doanh
1. Trường hợp doanh nghiệp nước ngoài tiến hành hoạt động
sản xuất, kinh doanh tại Việt
1.1. Nghĩa vụ thuế
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nước ngoài chỉ bị đánh thuế tại Việt Nam nếu doanh nghiệp
đó có một cơ sở thường trú tại Việt Nam và thu nhập đó liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp đến cơ sở thường trú đó. Trong trường hợp này doanh nghiệp đó chỉ bị
đánh thuế tại Việt
1.2. Định nghĩa cơ sở thường trú
1.2.1. Theo quy định tại Hiệp định, “cơ sở thường trú” là
một cơ sở kinh doanh cố định của một doanh nghiệp, thông qua đó, doanh nghiệp
thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh của
mình.
Một doanh nghiệp của Nước ký kết được coi là có cơ sở
thường trú tại Việt
a) Duy trì tại Việt Nam một “cơ sở” như một tòa nhà, một
văn phòng hoặc một phần của tòa nhà hay văn phòng đó, một phương tiện hoặc thiết
bị,...; và
b) Cơ sở này có tính chất cố định, nghĩa là được thiết lập
tại một địa điểm xác định và/hoặc được duy trì thường xuyên. Tính cố định của cơ
sở kinh doanh không nhất thiết phụ thuộc vào việc cơ sở đó phải được gắn liền
với một vị trí địa lý cụ thể trong một độ dài thời gian nhất định;
và
c) Doanh nghiệp tiến hành toàn bộ hoặc một phần hoạt động
kinh doanh thông qua cơ sở này.
Ví dụ 8: Công ty X của Trung Quốc
mở một gian hàng tại một khu chợ tết của Việt Nam, thông qua gian hàng này công
ty X bán các hàng hóa tại hội chợ. Khi đó, gian hàng này sẽ được coi là cơ sở
thường trú của công ty X tại Việt
1.2.2. Một doanh nghiệp của một Nước ký kết sẽ được coi là
tiến hành hoạt động kinh doanh thông qua một cơ sở thường trú tại Việt
a) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam: trụ sở điều hành, chi
nhánh (như chi nhánh công ty luật, chi nhánh văn phòng nước ngoài, chi nhánh các
công ty thuốc lá, chi nhánh ngân hàng,...), văn phòng (kể cả văn phòng đại diện
thương mại nếu có thương lượng, ký kết hợp đồng thương mại), nhà máy, xưởng sản
xuất, mỏ, giếng dầu hoặc khí, kho giao nhận hàng hoá, địa điểm thăm dò hoặc khai
thác tài nguyên thiên nhiên, hoặc có các thiết bị, phương tiện phục vụ cho việc
thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam.
Ví dụ 9: Một nhà thầu phụ nước
ngoài sử dụngphương tiện, thiết bị và nhân công tham gia vào hoạt động khoan
thăm dò dầu khí tại Việt Nam sẽ được coi là tiến hành hoạt động kinh doanh thông
qua một cơ sở thường trú tại Việt Nam.
b) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một địa điểm xây dựng,
một công trình xây dựng, lắp đặt hoặc lắp ráp, hoặc tiến hành các hoạt động giám
sát liên quan đến cácđịa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt hoặc lắp
ráp nói trên với điều kiện các địa điểm, công trình hoặc các hoạt động giám sát
đó kéo dài hơn 6 tháng hoặc 3 tháng (tùy theo từng Hiệp định cụ thể) tại Việt
Nam.
Địa điểm, công trình xây dựng hoặc lắp đặt bao gồm địa
điểm, công trình xây dựng nhà cửa, đường xá, cầu cống, lắp đặt đường ống, khai
quật, nạo vét sông ngòi,... Thời gian (6 tháng hoặc 3 tháng)
được tính từ ngày nhà thầu bắt đầu công việc chuẩn bị cho công trình xây dựng
tại Việt Nam, như thành lập văn phòng xây dựng kế hoạch thi công, cho đến khi
công trình hoàn thiện, bàn giao toàn bộ tại Việt Nam, kể cả thời gian công trình
bị gián đoạn do mọi nguyên nhân.
Các nhà thầu phụ của Nước ký kết tham gia vào các công
trình xây dựng, lắp đặt hoặc lắp ráp nêu trên cũng được coi là tiến hành hoạt
động kinh doanh tại Việt Nam thông qua cơ sở thường trú nếu hội đủ các điều kiện
tại Điểm 1.2.1 nêu trên.
Thời gian thực hiện công trình để xác định cơ sở thường trú
cho nhà thầu chính bao gồm tổng cộng thời gian thực hiện các phần hợp đồng của
các nhà thầu phụ và thời gian thực hiện của nhà thầu
chính.
Ví dụ 10: Công ty Z của Nhật Bản trúng thầu xây dựng một
chiếc cầu tại Việt
c) Doanh nghiệp đó thực hiện việc cung cấp dịch vụ bao gồm
cả dịch vụ tư vấn ở Việt Nam thông qua nhân viên của doanh nghiệp hoặc một đối
tượng khác với điều kiện các hoạt động dịch vụ nói trên trong một dự án hoặc các
dự án có liên quan, kéo dài tại Việt Nam trong một khoảng thời gian hay nhiều
khoảng thời gian gộp lại quá 183 ngày trong mỗi giai đoạn 12
tháng.
Ví dụ 11: Hãng sản xuất máy bay Đ của Thuỵ Điển ký hợp đồng
dịch vụ bảo dưỡng máy bay với hãng Hàng không Việt
Ví dụ 12: Công ty tư vấn N của Nhật Bản ký các hợp đồng
dịch vụ tư vấn với chủ đầu tư của Dự án xây dựng Nhà máy điện V tại Việt Nam như
sau: i) hợp đồng dịch vụ tư vấn xây dựng nhà máy điện kéo dài 4 tháng từ ngày
01/8/2010 đến ngày 30/11/2010, và ii) hợp đồng dịch vụ tư vấn lắp đặt hệ thống
máy phát điện kéo dài 3 tháng từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/3/2011. Cả hai hợp
đồng đều yêu cầu sự hiện diện của đại diện Công ty tư vấn N tại hiện trường xây
dựng và lắp đặt Nhà máy điện V để triển khai công việc trong suốt thời hạn hợp
đồng. Để thực hiện hợp đồng dịch vụ tư vấn lắp đặt nhà máy điện, Công ty tư vấn
N đã thuê một Công ty tư vấn B của Nhật Bản thực hiện với tư cách đại diện cho
Công ty. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 4, Điều 5, Hiệp định giữa
Việt Nam và Nhật Bản, Công ty tư vấn N được coi là có cơ sở thường trú tại Việt
Nam do sự hiện diện của đại diện Công ty tại Dự án tại Việt Nam vượt quá 6 tháng
trong giai đoạn 12 tháng; Công ty tư vấn B không được coi là có cơ sở thường trú
tại Việt Nam do sự hiện diện của Công ty tại Việt Nam không quá 6
tháng.
Ví dụ 13: Với các giả định như Ví dụ 12, nếu Công ty tư vấn
B và chủ đầu tư của Dự án còn ký một hiệp định tư vấn trong giai đoạn chạy thử
từ ngày 01/4/2011 đến ngày 30/7/2011. Hợp đồng cũng yêu cầu đại diện của Công ty
tư vấn B hiện diện trong suốt thời hạn hợp đồng tại hiện trường chạy thử Nhà máy
điện V. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 4, Điều 5, Hiệp định giữa
Việt Nam và Nhật Bản, Công ty tư vấn B được coi là có cơ sở thường trú tại Việt
Nam do sự hiện diện của đại diện Công ty tại Dự án tại Việt Nam vượt quá 6 tháng
trong giai đoạn 12 tháng.
Liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, mặc dù tại Hiệp định
có quy định cơ sở thường trú bao gồm việc cung cấp dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư
vấn ở Việt Nam thông qua nhân viên của doanh nghiệp hoặc một đối tượng khác với
điều kiện các hoạt động dịch vụ nói trên trong một dự án hoặc các dự án có liên
quan, kéo dài tại Việt Nam trong một khoảng thời gian hay nhiều khoảng thời gian
gộp lại quá 183 ngày trong mỗi giai đoạn 12 tháng, nhưng do tính chất của dịch
vụ, thời gian cung cấp dịch vụ không kéo dài quá 6 tháng trong một giai đoạn 12
tháng, trong khi đó, ba điều kiện về cơ sở thường trú tại Điểm 1.2.1 nêu trên
vẫn thỏa mãn thì việc cung cấp dịch vụ vẫn được coi là có một cơ sở thường trú
tại Việt Nam.
Ví dụ 14: Hãng sản xuất máy bay Đ của Thuỵ Điển ký hợp đồng
dịch vụ bảo dưỡng định kỳ máy bay với hãng Hàng không Việt
d) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một đại lý môi giới, đại
lý hoa hồng hoặc bất kỳ một đại lý nào khác, nếu các đại lý đó dành toàn bộ hoặc
phần lớn hoạt động của mình cho doanh nghiệp đó (đại lý phụ
thuộc).
Ví dụ 15: Công ty V là đối tượng cư trú của Việt
đ) Doanh nghiệp đó uỷ quyền cho một đối tượng tại Việt
- Thẩm quyền thường xuyên thương lượng, ký kết hợp đồng
đứng tên doanh nghiệp đó; hoặc ký các hợp đồng mang tên đối tượng đó nhưng ràng
buộc nghĩa vụ hoặc trách nhiệm của doanh nghiệp đó; hoặc
- Không có thẩm quyền thương lượng, ký kết hợp đồng, nhưng
có quyền thường xuyên đại diện cho doanh nghiệp đó giao hàng hóa tại Việt
1.2.3. Một doanh nghiệp nước ngoài sẽ được coi là không có
cơ sở thường trú tại Việt
a) Doanh nghiệp đó sử dụng các phương tiện chỉ nhằm mục
đích lưu kho, trưng bày hàng hóa của doanh nghiệp.
b) Doanh nghiệp đó có tại Việt
c) Doanh nghiệp đó có tại Việt
d) Doanh nghiệp đó có tại Việt
1.2.4. Trường hợp một công ty là đối tượng cư trú của Nước
ký kết Hiệp định với Việt Nam kiểm soát hoặc chịu sự kiểm soát bởi một công ty
là đối tượng cư trú của Việt Nam, hoặc đang tiến hành hoạt động kinh doanh tại
Việt Nam (có thể thông qua cơ sở thường trú hoặc dưới hình thức khác) sẽ không
làm cho bất kỳ công ty nào trở thành cơ sở thường trú của công ty
kia.
Ví dụ 16: Một doanh nghiệp nước ngoài góp vốn thành lập một
doanh nghiệp liên doanh hoặc một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt
Tuy nhiên, trường hợp công ty là đối tượng cư trú của Nước
ký kết Hiệp định với Việt Nam góp vốn thành lập một doanh nghiệp liên doanh hoặc
một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam (bao gồm cả doanh nghiệp chế
xuất) thì công ty đó sẽ được coi như có một cơ sở thường trú tại Việt Nam
nếu:
- Doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài thường xuyên thương lượng, ký kết hợp đồng đứng tên công ty đó; hoặc ký
các hợp đồng đứng tên doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài nhưng ràng buộc nghĩa vụ hoặc trách nhiệm của công ty nước ngoài;
hoặc
- Doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài thường xuyên đại diện cho công ty nước ngoài giao hàng hóa tại Việt
- Công ty nước ngoài đó có quyền định đoạt đối với cơ sở
vật chất - kỹ thuật của doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài đó trong quá trình sản xuất kinh doanh (nghĩa là, việc công ty nước ngoài
sử dụng các cơ sở vật chất - kỹ thuật của doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam (nếu có) trong quá trình sản xuất kinh
doanh không phải trên cơ sở nguyên tắc giá thị trường).
1.3. Xác định thu nhập chịu thuế của cơ sở thường
trú
1.3.1. Việc xác định thu nhập chịu thuế của cơ sở thường
trú của doanh nghiệp nước ngoài, trừ các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam được hướng dẫn tại Điểm 1.3.3 dưới đây, được thực hiện theo các văn bản
hướng dẫn thực hiện luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tổ chức, cá nhân
nước ngoài kinh doanh không thành lập pháp nhân tại Việt Nam hoặc có thu nhập
tại Việt Nam.
1.3.2. Khi xác định các khoản chi phí mà trụ sở chính của
doanh nghiệp nước ngoài hoặc các văn phòng của doanh nghiệp nước ngoài phân bổ
cho một cơ sở thường trú tại Việt Nam, cơ sở thường trú sẽ được coi là một doanh
nghiệp độc lập cùng tiến hành các hoạt động như nhau hay tương tự trong các điều
kiện như nhau hay tương tự và hoàn toàn độc lập với trụ sở chính của doanh
nghiệp nước ngoài hoặc các văn phòng của doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên,
trong mọi trường hợp, các khoản phân bổ dưới đây của trụ sở chính của doanh
nghiệp nước ngoài hoặc các văn phòng của doanh nghiệp nước ngoài phân bổ cho một
cơ sở thường trú tại Việt Nam sẽ không được chấp nhận là chi phí được
trừ:
- Tiền bản quyền hoặc các khoản thanh toán tương tự cho
việc sử dụng sáng chế hoặc các quyền tương tự;
- Tiền hoa hồng cho các dịch vụ hoặc cho các công việc quản
lý;
- Lãi tiền vay dưới mọi hình thức.
1.3.3. Việc xác định thu nhập chịu thuế của các chi nhánh
ngân hàng nước ngoài tại Việt
- Tiền bản quyền hoặc các khoản thanh toán tương tự cho
việc sử dụng sáng chế hoặc các quyền tương tự;
- Tiền hoa hồng cho các dịch vụ hoặc cho các công việc quản
lý.
Các quy định về thuế đối với thu nhập kinh doanh như trên
được nêu tại Điều khoản Thu nhập kinh doanh (thường là Điều 7) của Hiệp
định.
2. Trường hợp các doanh nghiệp nước ngoài tiến hành hoạt
động sản xuất, kinh doanh tại Việt
Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, các doanh
nghiệp nước ngoài có thể tiến hành kinh doanh tại Việt Nam thông qua việc thành
lập các pháp nhân tại Việt Nam như các doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài.
Theo quy định tại Hiệp định, các pháp nhân này có nghĩa vụ
nộp thuế thu nhập đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh như các
doanh nghiệp Việt
Ví dụ 17: Công ty T của Trung Quốc góp 70% vốn thành lập
Công ty liên doanh X tại Việt Nam. Trong năm 2009, Công ty liên doanh X thu được
lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 100 triệu đồng; sau khi nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp (TNDN) tại Việt Nam theo thuế suất 25%, lợi nhuận sau thuế được
chia hết theo tỷ lệ góp. Trong năm 2010, Công ty T bán 50% phần vốn góp của mình
tại liên doanh X thu được 3 tỷ đồng và thu được 50 triệu đồng tiền lãi trên số
vốn cho Công ty liên doanh X vay. Nghĩa vụ thuế của Công ty liên doanh X và Công
ty T trong năm 2010 như sau:
- Công ty liên doanh X nộp thuế TNDN như các doanh nghiệp
Việt
Thuế TNDN = 100 triệu đồng x 25% = 25 triệu
đồng
- Công ty T của Trung Quốc nộp thuế tại Việt
+ Đối với khoản lợi nhuận sau thuế được chia (75 triệu đồng
x 70%): Nộp thuế đối với thu nhập lãi cổ phần (hướng dẫn tại Mục 4. Thu nhập từ
tiền lãi cổ phần, Chương II, Thông tư này);
+ Đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp (3
tỷ đồng): Nộp thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng tài sản (hướng dẫn tại Mục
8. Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, Chương II, Thông tư này);
+ Đối với khoản thu nhập từ lãi tiền vay (50 triệu đồng):
Nộp thuế đối với thu nhập từ lãi tiền vay (hướng dẫn tại Mục 5. Thu nhập từ lãi
tiền cho vay, Chương II, Thông tư này).
Mục 3. THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI QUỐC
TẾ
Điều 12. Định nghĩa vận
tải quốc tế
Theo quy định tại Hiệp định, vận tải quốc tế là các hoạt
động vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng tàu thủy hoặc máy bay, tại một số Hiệp
định có thể bao gồm cả phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt hoặc đườngthủy
trong đất liền (dưới đây được gọi chung là phương tiện vận tải) do doanh nghiệp
của Nước ký kết thực hiện, trừ trường hợp các hoạt động vận chuyển đó chỉ diễn
ra giữa hai địa điểm của Việt Nam hoặc của Nước ký kết Hiệp định với Việt
Nam.
Ví dụ 18: Một doanh nghiệp Nhật Bản thực hiện hoạt động vận
tải hành khách và hàng hóa tại Việt
- Vận chuyển hàng hoá, hành khách từ một địa điểm ở Việt
Nam đến một địa điểm tại Nhật Bản (kể cả hàng hoá, hành khách đó từ Hải Phòng
qua Thành phố Hồ Chí Minh và Ô-sa-ka để đến Tô-ky-ô);
- Vận chuyển hàng hoá, hành khách từ một địa điểm ở Việt
Trường hợp tàu của doanh nghiệp Nhật Bản nêu trên vận
chuyển hành khách du lịch theo dịch vụ trọn gói cho hành trình Thành phố Hồ Chí
Minh -- Xinh-ga-po -- Hải Phòng; tàu khởi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh và cập
cảng tại Xinh-ga-po, toàn bộ hành khách sau khi thăm Xinh-ga-po quay trở lại tàu
để về Hải Phòng. Tại Xinh-ga-po, tàu này không nhận thêm bất kỳ hành khách nào.
Như vậy, hành trình vận tải hành khách trên đây không được coi là vận tải quốc
tế (mặc dù hải trình của tàu có chặng vận chuyển diễn ra ngoài Việt
Điều 13. Xác định đối tượng thực hưởng Hiệp định đối với
thu nhập từ vận tải quốc tế
Tùy theo từng Hiệp định, doanh nghiệp của Nước ký kết thực
hiện hoạt động vận tải quốc tế được xác định theo các tiêu thức
sau:
1. Doanh nghiệp do đối tượng cư trú của Việt
2. Doanh nghiệp có trụ sở điều hành thực tế tại Việt
với điều kiện doanh nghiệp đó sở hữu hoặc có quyền sử dụng
toàn bộ ít nhất một phương tiện vận tải và sử dụng phương tiện này vào việc vận
tải hành khách và/hoặc hàng hóa trong hành trình vận tải quốc tế (được gọi là
phương tiện vận tải do doanh nghiệp điều hành trực tiếp).
Điều 14. Xác định thu nhập từ vận tải quốc
tế
Tuỳ theo quy định tại từng Hiệp định, thu nhập từ hoạt động
vận tải quốc tế của các đối tượng nêu tại Điều 13 sẽ được miễn hoặc giảm thuế
tại Việt Nam hoặc tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam.
Phạm vi áp dụng miễn, giảm thuế tại Việt
1. Thu nhập từ hoạt động vận tải quốc tế bằng phương tiện
vận tải do doanh nghiệp điều hành trực tiếp và từ các hoạt động phụ trợ đi liền
với hoạt động vận tải quốc tế này, cụ thể:
1.1. Doanh thutừ hoạt động vận tải quốc tế bằng phương tiện
vận tải do chính doanh nghiệp điều hành trực tiếp và xuất chứng từ vận tải (xuất
vé, vận đơn hoặc bản lược khai (manifest) vận chuyển hành khách và hàng
hoá).
1.2. Doanh thu từ việc cho thuê một phần phương tiện vận
tải (còn gọi là cho thuê chỗ) hoặc cho thuê toàn bộ phương tiện vận tải theo
từng chuyến do chính doanh nghiệp điều hành trực tiếp.
Ví dụ 19: Hãng tàu A của Nhật Bản nhận chở hàng hóa của
công ty C từ Việt Nam đi Hà Lan với mức cước phí là 300 đô la Mỹ. Hãng tàu A
không có tàu điều hành trực tiếp mà thuê chỗ trên tàu của hãng tàu B của Thái
Lan với mức phí là 250 đô la Mỹ. Ngoài việc chở hàng cho hãng tàu A như trên,
hãng tàu B còn trực tiếp chở hàng cho các khách hàng khác trên cùng tuyến với số
cước thu được là 200 đô la Mỹ. Trong trường hợp này:
- Đối với hãng tàu A: số tiền 300 đô la Mỹ thu được từ việc
nhận chở hàng cho Công ty C hoặc số tiền 50 đô la Mỹ thu được do chênh lệch từ
việc nhận chở hàng cho Công ty C và thuê chỗ trên tàu của hãng B đều không được
coi là thu nhập từ vận tải quốc tế bằng tàu biển để được miễn thuế thu nhập
doanh nghiệp theo Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản do hãng A không trực tiếp
điều hành tàu (mà chỉ mua chỗ toàn chặng trên tàu của hãng tàu B) nên vẫn phải
nộp đủ thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Đối với hãng tàu B: số tiền cước 450 đô la Mỹ được coi là
thu nhập từ hoạt động vận tải quốc tế thuộc diện được giảm thuế thu nhập doanh
nghiệp theo Hiệp định giữa Việt Nam và Thái Lan (giảm 50% thuế thu nhập doanh
nghiệp phải nộp).
1.3. Doanh thu từ hoạt động vận chuyển hàng hóa hoặc hành
khách khi tham gia liên danh khai thác tuyến vận tải quốc tế với điều kiện doanh
nghiệp tham gia liên danh trên cơ sở đóng góp phương tiện vận tải do chính doanh
nghiệp điều hành trực tiếp hoặc đóng góp chi phí cho hoạt động của phương tiện
vận tải do liên danh điều hành trực tiếp và các bên sử dụng chứng từ vận tải
riêng biệt. Trong trường hợp này, doanh thu được xác định trên cơ sở chứng từ
vận tải do doanh nghiệp là bên liên danh phát hành nhưng không vượt quá hạn mức
chỗ trống của phương tiện vận tải mà doanh nghiệp được phép khai thác theo thỏa
thuận liên danh.
1.4. Doanh thu từ hoạt động vận chuyển hành khách hoặc hàng
hóa do doanh nghiệp xuất chứng từ vận tải quốc tế được chuyên chở trên phương
tiện vận tải do doanh nghiệp khác điều hành với một trong hai điều kiện sau
đây:
a) Chặng vận chuyển đó là một phần trong hành trình vận
chuyển quốc tế bằng tàu thủy hoặc máy bay do chính doanh nghiệp điều hành trực
tiếp và được ghi trong chứng từ vận tải do chính doanh nghiệp phát
hành;
Ví dụ 20: Cũng với Ví dụ 19 nêu trên, Hãng tàu A của Nhật
Bản nhận chở hàng hóa của công ty C từ Việt Nam đi Hà Lan với mức cước phí là
300 đô la Mỹ. Tuy nhiên, hãng tàu A có tàu A1 do hãng trực tiếp điều hành vận
chuyển hàng hóa chặng hai từ Xinh-ga-po đến Hà Lan. Chặng một từ Việt Nam đi
Xinh-ga-po, hãng A phải thuê hãng tàu B của Thái Lan vận chuyển hàng với chi phí
là 50 đô la Mỹ.
- Đối với hãng tàu A: số tiền 250 đô la Mỹ (300 – 50) thu
được từ việc trực tiếp vận chuyển hàng hóa trong vận tải quốc tế thuộc diện được
miễn thuế thu nhập doanh nghiệp theo Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật
Bản.
- Đối với hãng tàu B: số tiền cước 50 đô la Mỹ được coi là
thu nhập từ hoạt động vận tải quốc tế thuộc diện được giảm thuế thu nhập doanh
nghiệp theo Hiệp định giữa Việt Nam và Thái Lan (giảm 50% thuế thu nhập doanh
nghiệp phải nộp).
b) Việc chuyên chở đó được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận
hoán đổi một phần phương tiện vận tải (được gọi là hoán đổi chỗ) do chính doanh
nghiệp điều hành trực tiếp để đổi lại doanh nghiệp được sử dụng một phần tương
ứng phương tiện vận tải do doanh nghiệp khác điều hành. Trong trường hợp này,
doanh thu được xác định trên cơ sở các chứng từ vận tải do chính doanh nghiệp
phát hành nhưng không vượt quá hạn mức chỗ trống mà doanh nghiệp được khai thác
miễn phí trên phương tiện của hãng đối tác theo thỏa thuận hoán đổi
chỗ.
1.5. Thu nhập từ việc cho thuê ngắn hạn (lưu) công-ten-nơ
với tính chất là hoạt động phụ kèm theo hoạt động của phương tiện vận tải do
doanh nghiệp điều hành trực tiếp nếu tại Hiệp định có quy
định.
Tính chất hoạt động phụ kèm theo hoạt động của phương tiện
vận tải của việc cho thuê ngắn hạn (lưu) công-ten-nơ được xác định là
công-ten-nơ đi liền với phương tiện vận tải có vào cảng Việt Nam, công-ten-nơ
đang chứa hàng vận chuyển nhập khẩu và phí sử dụng công-ten-nơ đã được bao gồm
trong giá cước vận chuyển; thu nhập cho thuê ngắn hạn công-ten-nơ phát sinh do
bên nhận hàng lưu giữ công-ten-nơ quá thời hạn sử dụng miễn
phí.
1.6. Doanh thu từ việc cho thuê tàu thủy hoặc máy bay trống
(được gọi chung là thuê tàu trần) có tính chất phụ trợ cho hoạt động vận tải
quốc tế của phương tiện vận tải do doanh nghiệp điều hành trực tiếp nếu được quy
định cụ thể tại Hiệp định và thỏa mãn cả ba điều kiện sau
đây:
a) Phương tiện vận tải đang được doanh nghiệp sử dụng trong
vận tải quốc tế; và
b) Tổng thời gian cho thuê ngắn hơn thời gian phương tiện
được sử dụng cho hoạt động vận tải quốc tế của chính doanh nghiệp trong thời
gian 12 tháng bắt đầu hoặc kết thúc năm dương lịch; và
c) Bên đi thuê không được thay đổi tên và hô hiệu của
phương tiện vận tải.
Thuê tàu trần là hình thức thuê tàu theo đó chủ tàu cung
cấp cho người thuê tàu một tàu cụ thể không bao gồm thuyền bộ hoặc phi hành
đoàn.
Doanh thu được nêu tại các Điểm 1.5 và 1.6 trên đây sẽ
không được coi là doanh thu từ các hoạt động phụ trợ đi liền với hoạt động vận
tải quốc tế để áp dụng Hiệp định nếu doanh nghiệp không phát sinh các khoản
doanh thu được nêu tại các Điểm 1.1, 1.2, 1.3 hoặc 1.4.
2. Trường hợp hai hoặc nhiều doanh nghiệp có hoạt động liên
danh để tạo thành một tổ chức liên danh hoặc hợp danh không có tư cách pháp nhân
thực hiện hoạt động vận tải quốc tế bằng phương tiện vận tải do tổ chức liên
danh hoặc hợp danh điều hành trực tiếp và chứng từ vận tải được xuất dưới tên
của tổ chức liên danh hoặc hợp danh thì việc xác định phạm vi áp dụng miễn, giảm
thuế theo Hiệp định được thực hiện riêng biệt cho từng bên liên danh hoặc hợp
danh theo Hiệp định ký kết giữa Việt Nam và nước nơi bên liên danh hoặc hợp danh
là đối tượng cư trú hoặc có trụ sở điều hành thực tế. Căn cứ xác định doanh thu
miễn, giảm thuế được áp dụng tương tự như quy định tại Khoản 1 và được phân bổ
theo tỷ lệ doanh thu chia cho bên liên danh hoặc hợp danh theo hợp đồng hoặc
thỏa thuận liên danh hoặc hợp danh.
Ví dụ 21: Liên danh hàng không Scăng-đi-na-via (SAS) có
hoạt động vận chuyển hành khách quốc tế tại Việt Nam đi các nước Bắc Âu. Như
vậy, doanh thu của hãng phát sinh tại Việt Nam sẽ được phân bổ cho các bên tham
gia góp vốn điều hành liên danh hàng không SAS là các đối tượng cư trú tại Na
Uy, Đan Mạch hoặc Thụy Điển để áp dụng theo từng Hiệp định có liên
quan.
Khi kê khai nghĩa vụ thuế, các doanh nghiệp trên phải hạch
toán riêng các khoản thu nhập được nêu trên để được xét miễn, giảm thuế thu nhập
doanh nghiệp phù hợp với quy định về thu nhập từ hoạt động vận tải quốc tế.
Trong mọi trường hợp doanh thu xét miễn, giảm thuế không vượt quá doanh thu tính
thuế thu nhập doanh nghiệp của hoạt động vận tải quốc tế theo các văn bản quy
định có liên quan.
Trường hợp Hiệp định (như Hiệp định với Băng-la-đét,
Phi-líp-pin và Thái Lan) quy định chỉ giảm thuế thu nhập theo một tỷ lệ nhất
định thì doanh nghiệp phải nộp thuế thu nhập đối với thu nhập từ vận tải quốc tế
theo phần tỷ lệ không được giảm.
Các quy định về thuế đối với thu nhập từ vận tải quốc tế
như trên được nêu tại Điều khoản Vận tải quốc tế (thường là Điều 8) của Hiệp
định.
Mục 4. THU NHẬP TỪ TIỀN LÃI CỔ PHẦN
Điều 15. Định nghĩa tiền lãi cổ phần
Theo quy định tại Hiệp định, tiền lãi cổ phần là khoản tiền
được trích từ thu nhập sau thuế của các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần trả cho các thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc cổ đông của
công ty cổ phần, khoản tiền được trích từ thu nhập sau thuế của doanh nghiệp
liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trả cho bên nước ngoài, thu nhập từ
các hoạt động đầu tư (gián tiếp) ở nước ngoài (không kể thu nhập là lãi từ tiền
cho vay quy định tại Mục 5, Chương II, Thông tư này) của các đối tượng cư trú
Việt Nam, và thu nhập được chia từ hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của
các doanh nghiệp Việt Nam được Nước ký kết xử lý thuế như tiền lãi cổ
phần.
Ví dụ 22: Doanh nghiệp S của Việt Nam đầu tư tại các nước X
và Y với tình hình thu nhập và nộp thuế theo quy định của nước X và Y như
sau:
STT |
|
Nước
X |
Nước
Y |
1 2 3 4
|
Thu nhập trước
thuế Thuế thu nhập
28% Thu nhập sau
thuế Thuế thu nhập đối với tiền lãi cổ
phần Thu nhập thực
nhận |
100 28 72 14,4 (thuế suất
20%)
|
100 28 72 Không coi là tiền lãi cổ
phần
|
Như vậy doanh nghiệp S, trong phạm vi Hiệp định với nước X,
được coi là có tiền lãi cổ phần từ nước ngoài là 72; trong phạm vi Hiệp định với
nước Y, không được coi là có tiền lãi cổ phần từ nước ngoài.
Điều 16. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ tiền
lãi cổ phần
1. Theo quy định tại Hiệp định, Việt Nam có quyền thu thuế
đối với tiền lãi cổ phần do một công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam trả cho
một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam theo một thuế suất
giới hạn tùy theo từng Hiệp định (thường không quá 15%) với điều kiện đối tượng
nhận là đối tượng thực hưởng.
2. Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được
tiền lãi cổ phần của một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định
với Việt Nam thì Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam có quyền đánh thuế thu nhập
như quy định tại Khoản 1, Điều này, Việt Nam có quyền thu thuế đối với thu nhập
này theo quy định tại pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam; nhưng đồng thời
Việt Nam phải thực hiện các biện pháp tránh đánh thuế hai lầnđối với khoản thu
nhập này (quy định tại Chương III. Biện pháp tránh đánh thuế hai lần tại Việt
Nam của Thông tư này).
3. Trường hợp một đối tượng cư trú nhận được tiền lãi cổ
phần mà pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam không quy định thu thuế thu nhập
đối với loại thu nhập này hoặc thu thuế với một mức thuế suất thấp hơn quy định
tại Hiệp định thì đối tượng có thu nhập sẽ thực hiện nghĩa vụ thuế theo các quy
định tại pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam.
Ví dụ 23: Một công ty của Anh đầu tư 14 triệu đô la Mỹ vào
một liên doanh tại Việt Nam, trong năm 2010 đã nhận được tiền lãi cổ phần từ
liên doanh tại Việt Nam. Mặc dù theo Hiệp định giữa Việt Nam và Anh (Khoản 2.a,
Điều 10: Tiền lãi cổ phần), Việt Nam có quyền thu thuế đối với thu nhập từ tiền
lãi cổ phần của Công ty Anh này với mức thuế suất 7%, nhưng theo quy định của
Luật thuế hiện hành, Việt Nam chưa thu thuế đối với khoản thu nhập từ tiền lãi
cổ phần của các doanh nghiệp nên Công ty Anh không phải nộp thuế đối với số thu
nhập từ tiền lãi cổ phần nêu trên.
Điều 17. Xác định đối tượng thực hưởng Hiệp định đối với thu nhập từ tiền lãi cổ
phần
Theo quy định tại Hiệp định, các quy định về thuế đối với
tiền lãi cổ phần chỉ áp dụng đối với các đối tượng cư trú đồng thời là đối tượng
nhận và là đối tượng thực hưởng lợi ích của cổ phần - nghĩa là các cổ đông. Do
đó, ngoài một số trường hợp không được hưởng lợi Hiệp định theo quy định tại
Điều 6. Một số trường hợp từ chối áp dụng Hiệp định trên cơ sở nguyên tắc hưởng
lợi Hiệp định, các mức thuế suất giảm hoặc việc miễn thuế đối với thu nhập từ
tiền lãi cổ phần quy định tại Hiệp định sẽ không áp dụng đối
với:
1. Đối tượng nhận khoản thanh toán tiền lãi cổ phần nhưng
không phải là cổ đông hoặc không phải là đối tượng cư trú.
Ví dụ 24: Một Quỹ đầu tư đăng ký tại nước S (được thành lập
bởi các thành viên là các đối tượng cư trú của các nước có Hiệp định với Việt
Nam) tham gia góp vốn thành lập Công ty liên doanh V tại Việt Nam. Quỹ đầu tư đó
không phải là một đối tượng cư trú của nước S. Lãi cổ phần nhận được bởi Quỹ đầu
tư từ Công ty liên doanh V và thu nhập nhận được bởi các thành viên góp vốn của
Quỹ đầu tư từ số lãi cổ phần được chia bởi Quỹ đầu tư đều không được áp dụng
Hiệp định giữa Việt Nam với nước S và các nước mà các thành viên là đối tượng cư
trú.
2. Tiền lãi cổ phần do công ty là đối tượng cư trú của Việt
Nam trả cho một cơ sở thường trú đặt tại Việt Nam của một đối tượng cư trú của
Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam.
Ví dụ 25: Chi nhánh ngân hàng CV là chi nhánh ngân hàng
nước ngoài tại Việt Nam của ngân hàng C của Pháp mua cổ phần tại một công ty cổ
phần của Việt Nam và được chia một khoản lãi cổ phần. Theo yêu cầu của chi nhánh
CV, khoản tiền lãi cổ phần đó được chuyển thẳng cho ngân hàng C có trụ sở chính
tại Pa-ri. Trong trường hợp này, người thực hưởng tiền lãi cổ phần là chi nhánh
CV, không phải ngân hàng C. Do chi nhánh CV là một cơ sở thường trú của ngân
hàng C tại Việt Nam nên theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Pháp (Khoản
5, Điều 10: Tiền lãi cổ phần), các quy định về thuế đối với tiền lãi cổ phần sẽ
không áp dụng đối với ngân hàng C mà các quy định về thuế đối với thu nhập từ
hoạt động kinh doanh sẽ được áp dụng (Điều 7: Lợi tức doanh nghiệp, Hiệp định
giữa Việt Nam và Pháp).
3. Tiền lãi cổ phần do công ty là đối tượng cư trú của Việt
Nam trả cho một cơ sở thường trú của một công ty khác của Việt Nam đặt tại Nước
ký kết Hiệp định với Việt Nam.
Ví dụ 26: Ngân hàng V của Việt Nam có một chi nhánh VC tại
nước L là Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Theo luật của nước L, chi nhánh VC
được coi là một cơ sở thường trú của ngân hàng V tại nước đó. Chi nhánh VC mua
cổ phần của một công ty tại Việt Nam và được chia lãi cổ phần. Trong trường hợp
này, các quy định về thuế đối với tiền lãi cổ phần tại Hiệp định giữa Việt Nam
và L sẽ không được áp dụng.
Các quy định về thuế đối với thu nhập từ tiền lãi cổ phần
như trên được nêu tại Điều khoản Tiền lãi cổ phần (thường là Điều 10) của Hiệp
định.
Mục 5. THU NHẬP TỪ LÃI TIỀN CHO VAY
Điều 18. Định nghĩa lãi từ tiền cho vay
Theo quy định tại Hiệp định, “lãi từ tiền cho vay” là thu
nhập từ các khoản cho vay dưới bất kỳ hình thức nào, có hoặc không được đảm bảo
bằng thế chấp và có hoặc không có quyền được hưởng lợi tức của người đi vay, bao
gồm cả khoản thu nhập từ chứng khoán của Chính phủ và thu nhập từ trái phiếu
hoặc trái phiếu thông thường, bao gồm cả tiền thưởng và giải thưởng đi liền với
các chứng khoán, trái phiếu hoặc trái phiếu thông thường
đó.
Điều 19. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ lãi
tiền cho vay
1. Theo quy định tại Hiệp định,
Việt Nam có quyền thu thuế đối với lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Việt Nam
trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam theo một
thuế suất giới hạn (thường không quá 10%) tùy theo từng Hiệp định, với điều kiện
đối tượng nhận là đối tượng thực hưởng.
Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Việt Nam là các khoản lãi
từ tiền cho vay do bất cứ một đối tượng cư trú nào của Việt Nam chịu và phải
trả, kể cả các khoản lãi được chịu và phải trả bởi Chính phủ Việt Nam và các cơ
quan chính quyền địa phương Việt Nam hoặc các cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố
định của một đối tượng cư trú nước ngoài có tại Việt Nam.
Ví dụ 27: Chi nhánh ngân hàng QT là chi nhánh ngân hàng
nước ngoài tại Việt Nam của ngân hàng Q của Thái Lan chi trả cho ngân hàng Q một
khoản lãi tiền cho vay. Do chi nhánh QT là một cơ sở thường trú của ngân hàng Q
tại Việt Nam, nên theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Thái Lan, khoản
tiền lãi này coi như phát sinh tại Việt Nam và phải chịu thuế tại Việt Nam với
mức thuế suất 10% (Khoản 2.a, Điều 11: Lãi từ tiền cho vay). Tuy nhiên, do mức
thuế suất đối với thu nhập từ lãi tiền cho vay hiện nay của Việt Nam trong
trường hợp này là 5% nên khoản tiền lãi này chỉ chịu thuế tại Việt Nam với mức
thuế suất 5%.
2. Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được
lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thì Nước ký
kết Hiệp định với Việt Nam có quyền đánh thuế tại nguồn thu nhập đó theo quy
định tại Khoản 1 nêu trên và Việt Nam cũng có quyền thu thuế đối với thu nhập
này theo quy định tại pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam, nhưng đồng thời
Việt Nam phải thực hiện các biện pháp tránh đánh thuế hai lần đối với khoản thu
nhập này (quy định tại Chương III. Biện pháp tránh đánh thuế hai lần tại Việt
Nam của Thông tư này).
3. Trường hợp pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam không
quy định việc thu thuế thu nhập đối với loại thu nhập này hoặc thu thuế với một
mức thuế suất thấp hơn quy định tại Hiệp định thì đối tượng có thu nhập sẽ thực
hiện nghĩa vụ thuế theo các quy định tại pháp luật hiện hành về thuế ở Việt
Nam.
Ví dụ 28: Cũng với Ví dụ
27 như trên, nhưng giả sử khoản lãi từ tiền cho vay được chi trả cho một đối
tượng cư trú là cá nhân ở Thái Lan. Mặc dù theo Hiệp định giữa Việt Nam và Thái
Lan (Khoản 2.b, Điều 11: Lãi từ tiền cho vay), Việt Nam có quyền thu thuế đối
với khoản tiền lãi này với thuế suất 15%. Nhưng theo quy định của Luật thuế thu
nhập cá nhân của Việt Nam, mức thuế suất áp dụng là 5%. Do đó, Việt Nam chỉ thu
thuế với mức thuế suất 5% thay vì 15%.
Điều 20. Xác định đối
tượng thực hưởng Hiệp định đối
với thu nhập từ lãi tiền cho vay
Theo quy định tại Hiệp định, các quy định về thuế đối với
thu nhập từ lãi tiền cho vay chỉ áp dụng đối với các đối tượng trực tiếp cho
vay, trực tiếp nhận lãi từ tiền cho vay và đồng thời là đối tượng thực hưởng các
khoản lãi từ tiền cho vay đó - nghĩa là người cho vay.
Ví dụ 29: Một công ty Việt Nam ký hợp đồng vay vốn với Ngân
hàng H của Hàn Quốc. Theo quy định của hợp đồng, công ty Việt Nam nhận được vốn
vay từ và trả cả vốn và lãi tiền vay cho Ngân hàng H vào một tài khoản của Ngân
hàng H mở tại Ngân hàng C ở nước C. Trong trường hợp này, người thực hưởng tiền
lãi là Ngân hàng H của Hàn Quốc bất kể nước C có Hiệp định tránh đánh thuế hai
lần với Việt Nam hay không.
Ví dụ 30: Công ty A cư trú tại Việt Nam ký Hợp đồng vay vốn
với Ngân hàng C ở nước X, Ngân hàng D ở nước Y và Ngân hàng E ở nước Z và vốn
vay được chuyển trực tiếp từ tài khoản của các ngân hàng này cho Công ty A.
Trong đó, nước X và Y có ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam. Công
ty A có thể trả lãi vay theo các cách như sau: (i) Công ty A chuyển trả lãi tiền
vay trực tiếp cho từng Ngân hàng C, D và E tương ứng với tỷ lệ góp vốn; hoặc
(ii) Công ty A chuyển trả toàn bộ lãi tiền vay cho Ngân hàng C, sau đó việc chia
lại lãi do thỏa thuận của các bên cho vay (Ngân hàng C, D và E). Trong trường
hợp này, khoản trả lãi tiền vay cho khoản vay hợp vốn của Ngân hàng C và D của
trường hợp (i) và Ngân hàng C của trường hợp (ii) sẽ được áp dụng Hiệp
định.
Ví dụ 31: Giả sử với Ví dụ 30 nêu trên, Công ty A trả lãi
vay theo cách thức thứ (iii) như sau: Công ty A chuyển trả toàn bộ lãi tiền vay
cho ngân hàng E, sau đó việc chia lại lãi do thỏa thuận của các bên cho vay
(Ngân hàng C, D và E). Trong trường hợp này, các Ngân hàng C, D và E không thuộc
diện được áp dụng Hiệp định.
Ngoài một số trường hợp không được hưởng lợi Hiệp định theo
quy định tại Điều 6. Một số trường hợp từ chối áp dụng Hiệp định trên cơ sở
nguyên tắc hưởng lợi Hiệp định, các mức thuế suất giảm hoặc việc miễn thuế đối
với thu nhập từ lãi tiền cho vay quy định tại Hiệp định sẽ không áp dụng đối
với:
1. Đối tượng nhận khoản thanh toán lãi từ tiền cho vay
nhưng không phải là người cho vay.
Ví dụ 32: Một công ty Việt Nam trả lãi tiền vay cho ngân
hàng C của Thái Lan. Theo yêu cầu của ngân hàng này, số lãi tiền vay này được
chuyển cho ngân hàng P của Pháp có trụ sở chính tại Pa-ri. Trong trường hợp này,
người thực hưởng tiền lãi là ngân hàng C của Thái Lan, không phải ngân hàng P
của Pháp. Do đó, ngân hàng P không có quyền yêu cầu áp dụng các quy định tại
Hiệp định giữa Việt Nam và Pháp đối với khoản lãi từ tiền cho vay
này.
2. Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Việt Nam trả cho một
cơ sở thường trú đặt tại Việt Nam của một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp
định với Việt Nam.
Ví dụ 33: Một công ty Việt Nam trả lãi tiền vay cho Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài V tại Việt Nam của ngân hàng nước ngoài C là đối
tượng cư trú của Thái Lan. Trong trường hợp này, khoản lãi từ tiền cho vay nhận
được bởi Chi nhánh ngân hàng nước ngoài V được coi như thu nhập kinh doanh thông
thường (không phải thu nhập từ lãi tiền cho vay) của Chi nhánh ngân hàng nước
ngoài V tại Việt Nam theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Thái
Lan.
3. Lãi từ tiền cho vay phát sinh
tại Việt Nam trả cho một cơ sở thường trú của một công ty khác của Việt Nam đặt
tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam.
Ví dụ 34: Ngân hàng V của Việt Nam có một chi nhánh VC tại
nước L là Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam. Theo luật của nước L, chi nhánh VC
được coi là một cơ sở thường trú của Ngân hàng V tại nước đó. Chi nhánh VC cho
một công ty tại Việt Nam vay tiền và nhận được khoản lãi từ tiền cho vay. Trong
trường hợp này, các quy định về thuế đối với lãi từ tiền cho vay tại Hiệp định
giữa Việt Nam và L sẽ không được áp dụng.
4. Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại Việt Nam trả cho một
cơ sở thường trú của một doanh nghiệp của nước thứ ba có tại Nước ký kết Hiệp
định với Việt Nam.
Ví dụ 35: Một công ty Việt Nam trả lãi tiền vay cho Chi
nhánh ngân hàng N tại nước N của ngân hàng C là đối tượng cư trú của Thái Lan.
Trong trường hợp này, khoản lãi tiền vay nhận được bởi Chi nhánh ngân hàng N
không được áp dụng các quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Thái
Lan.
5. Tiền cho vay không được chuyển trực tiếp từ tài khoản
của bên cho vay là đối tượng cư trú của Nước ký Hiệp định với Việt
Nam.
Ví dụ 36: Giả sử với Ví dụ 30 nêu
trên, toàn bộ số tiền cho vay theo Hợp đồng được chuyển cho Công ty A từ tài
khoản của Ngân hàng E; khi đó, khoản lãi tiền vay phát sinh trên số tiền cho vay
này sẽ không thuộc diện áp dụng Hiệp định.
Các quy định về thuế đối với thu nhập từ lãi từ tiền cho
vay như trên được nêu tại Điều khoản Lãi từ tiền cho vay (thường là Điều 11) của
Hiệp định.
Mục 6. THU NHẬP TỪ TIỀN BẢN QUYỀN
Điều 21. Định nghĩa tiền bản quyền
Theo quy định tại Hiệp định, tiền bản quyền là các khoản
tiền trả cho việc sử dụng hoặc có quyền sử dụng:
1. Bản quyền tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học, kể
cả các loại phim điện ảnh và các loại băng hoặc đĩa sử dụng trong phát thanh
hoặc truyền hình;
2. Bằng phát minh, sáng chế;
3. Nhãn hiệu thương mại;
4. Thiết kế, mẫu, đồ án, công thức hoặc quy trình bí
mật;
5. Phần mềm máy tính;
6. Thiết bị công nghiệp, thương mại và khoa
học;
7. Thông tin liên quan đến kinh nghiệm công nghiệp, khoa
học và thương mại.
Điều 22. Xác định nghĩa
vụ thuế đối với thu nhập từ
tiền bản quyền
1. Theo quy định tại Hiệp định, Việt Nam có quyền thu thuế
đối với tiền bản quyền phát sinh tại Việt Nam trả cho một đối tượng cư trú của
Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam theo thuế suất giới hạn (thường không quá
10%) tùy theo từng Hiệp định, với điều kiện đối tượng nhận là đối tượng thực
hưởng.
Tiền bản quyền phát sinh tại Việt Nam là các khoản tiền bản
quyền do bất kỳ một đối tượng cư trú nào của Việt Nam chịu và phải trả, kể cả
các khoản tiền bản quyền được chịu và phải trả bởi Chính phủ và các cơ quan
chính quyền địa phương Việt Nam hoặc các cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định mà
một đối tượng cư trú nước ngoài có tại Việt Nam.
2. Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được
tiền bản quyền phát sinh tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thì Nước ký kết
Hiệp định với Việt Nam có quyền đánh thuế thu nhập theo như quy định tại Khoản 1
nêu trên, Việt Nam có quyền thu thuế đối với thu nhập này theo quy định tại pháp
luật hiện hành về thuế ở Việt Nam; nhưng đồng thời Việt Nam phải thực hiện các
biện pháp tránh đánh thuế hai lần đối với khoản thu nhập này (quy định tại
Chương III. Biện pháp tránh đánh thuế hai lần tại Việt Nam của Thông tư
này).
Ví dụ 37: Một liên doanh pha chế dầu nhờn tại Việt Nam ký
kết hợp đồng với một công ty của Hàn Quốc trong đó quy định công ty này chuyển
giao cho liên doanh Việt Nam công thức pha dầu nhờn của công ty Hàn Quốc trong
vòng 20 năm. Khi liên doanh Việt Nam trả tiền bản quyền cho công ty Hàn Quốc,
theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam, liên doanh phải khấu
trừ thuế trên tiền bản quyền là 10% tổng số tiền bản quyền để nộp ngân sách. Tuy
nhiên, căn cứ Hiệp định giữa Việt Nam và Hàn Quốc (Khoản 2.a, Điều 12: Tiền bản
quyền), liên doanh chỉ phải khấu trừ theo mức 5% thay vì 10%.
3. Trường hợp pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam không
quy định thu thuế thu nhập đối với loại thu nhập này hoặc thu thuế với một mức
thuế suất thấp hơn quy định tại Hiệp định thì đối tượng có thu nhập sẽ thực hiện
nghĩa vụ thuế theo các quy định tại pháp luật hiện hành về thuế ở Việt
Nam.
Ví dụ 38: Giả sử với Ví dụ 37 nêu trên, công ty Hàn Quốc
góp vốn vào công ty liên doanh tại Việt Nam bằng quyền sử dụng công thức pha chế
dầu nhờn trong vòng 20 năm. Theo Hiệp định giữa Việt Nam và Hàn Quốc (Khoản 2.a,
Điều 12: Tiền bản quyền), Việt Nam có quyền thu thuế bản quyền đối với công ty
Hàn Quốc do việc chuyển quyền sử dụng công thức pha chế dầu nhờn thành vốn tiền
tệ với mức thuế suất 5%. Tuy nhiên, theo quy định của Luật pháp Việt Nam, nếu
việc góp vốn bằng chuyển giao công nghệ được miễn thuế thu nhập thì công ty Hàn
Quốc được miễn thuế.
Điều 23. Xác định đối tượng thực hưởng Hiệp định đối với
thu nhập từ tiền bản quyền
Theo quy định tại Hiệp định, các quy định về thuế đối với
tiền bản quyền chỉ áp dụng đối với các đối tượng trực tiếp nhận và đồng thời là
đối tượng thực hưởng thu nhập bản quyền - nghĩa là người có quyền sở hữu, sử
dụng và khai thác bản quyền. Do đó, sẽ không áp dụng đối
với:
1. Đối tượng nhận khoản thanh toán tiền bản quyền nhưng
không phải là đối tượng có quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền khai thác bản
quyền; hoặc
2. Tiền bản quyền phát sinh tại Việt Nam liên quan trực
tiếp đến một cơ sở thường trú đặt tại Việt Nam của đối tượng thực hưởng là một
đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam;
hoặc
3. Tiền bản quyền phát sinh tại Việt Nam trả cho một cơ sở
thường trú của một công ty khác của Việt Nam đặt tại Nước ký kết Hiệp định với
Việt Nam.
Ví dụ 39: Một chi nhánh của công ty thuốc lá Anh tại Việt
Nam cho phép một công ty Việt Nam sử dụng công thức và nhãn hiệu thương mại của
công ty thuốc lá Anh trong các sản phẩm của công ty Việt Nam với điều kiện chi
nhánh kiểm tra và giám sát quá trình sử dụng. Trong trường hợp này, tiền bản
quyền từ việc sử dụng công thức và nhãn hiệu thương mại của công ty thuốc lá Anh
liên quan trực tiếp đến chi nhánh. Do chi nhánh là cơ sở thường trú tại Việt Nam
của công ty thuốc lá Anh, nên theo quy định tại Hiệp định giữa Việt Nam và Anh
(Khoản 4, Điều 12: Tiền bản quyền), Việt Nam có quyền thu thuế đối với thu nhập
này như đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh (Điều 7: Lợi tức doanh nghiệp
của Hiệp định giữa Việt Nam và Anh).
Các quy định về thuế đối với thu nhập từ tiền bản quyền như
trên được nêu tại Điều khoản Tiền bản quyền (thường là Điều 12) của Hiệp
định.
Mục 7. THU NHẬP TỪ CUNG CẤP DỊCH VỤ KỸ
THUẬT
Điều 24. Định nghĩa phí dịch vụ kỹ thuật
Theo quy định tại Hiệp định, phí dịch vụ kỹ thuật là các
khoản thanh toán ở bất kỳ hình thức nào trả cho bất kỳ đối tượng nào, không phải
là người làm công cho đối tượng trả tiền, đối với bất kỳ các dịch vụ nào mang
tính chất kỹ thuật, quản lý hoặc tư vấn.
Điều 25. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ dịch vụ kỹ thuật
1. Theo quy định tại Hiệp định, Việt Nam có quyền thu thuế
đối với phí dịch vụ kỹ thuật phát sinh tại Việt Nam trả cho một đối tượng cư trú
của nước ký kết Hiệp định với Việt Nam theo thuế suất giới hạn (thường không quá
10%) tùy theo từng Hiệp định, với điều kiện đối tượng nhận là đối tượng thực
hưởng.
Phí dịch vụ kỹ thuật phát sinh tại Việt Nam là các khoản
thanh toán dưới bất kỳ dạng nào do một đối tượng cư trú của Việt Nam chịu và
phải trả, kể cả các khoản phí dịch vụ kỹ thuật được chịu và phải trả bởi Chính
phủ và các cơ quan chính quyền địa phương Việt Nam hoặc các cơ sở thường trú
hoặc cơ sở cố định mà một đối tượng cư trú nước ngoài có tại Việt
Nam.
Ví dụ 40: Công ty X là đối tượng cư trú tại Việt Nam chuyên
sản xuất hoa quả đóng hộp. Để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa sang Châu Âu,
Công ty X đã thuê Công ty M tại Đức tư vấn pháp lý về thủ tục mở chi nhánh hoặc
tìm đại lý tiêu thụ sản phẩm. Dịch vụ tư vấn này được thực hiện tại Đức và Công
ty M không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Trong trường hợp này, khi trả tiền phí dịch vụ cho Công ty
M, Công ty X có nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất không
quá 7,5% theo Hiệp định giữa Việt Nam và Đức (Khoản 1.b, Điều 12: Tiền bản quyền
và phí dịch vụ kỹ thuật).
2. Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được
phí dịch vụ kỹ thuật phát sinh tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thì Nước
ký kết Hiệp định với Việt Nam có quyền đánh thuế thu nhập theo như quy định tại
Khoản 1 nêu trên, Việt Nam có quyền thu thuế đối với thu nhập này theo quy định
tại pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam; nhưng đồng thời Việt Nam phải thực
hiện các biện pháp tránh đánh thuế hai lần đối với khoản thu nhập này (quy định
tại Chương III. Biện pháp tránh đánh thuế hai lần tại Việt Nam của Thông tư
này).
Các quy định về thuế đối với thu nhập là phí dịch vụ kỹ
thuật như trên được nêu tại Điều khoản Phí dịch vụ kỹ thuật (thường là Điều 13)
của Hiệp định.
Mục 8. THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN
Điều 26. Định nghĩa thu nhập từ chuyển nhượng tài
sản
Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản là thu nhập dưới mọi hình
thức từ việc bán, chuyển nhượng (toàn bộ hoặc một phần) hoặc trao đổi tài sản và
quyền đối với tài sản; kể cả trường hợp đưa tài sản vào một cơ sở kinh doanh để
đổi lấy các quyền tại cơ sở kinh doanh đó.
Điều 27. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển
nhượng tài sản
1. Nghĩa vụ thuế đối vớithu nhập từ chuyển nhượng bất động
sản tại Việt Nam
Theo quy định tại Hiệp định, Việt Nam có quyền thu thuế thu
nhập theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam đối với thu nhập
từ việc chuyển nhượng bất động sản tại Việt Nam của một đối tượng cư trú của
Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam.
Ví dụ 41: Hãng khai thác dầu mỏ của Pháp chuyển nhượng
quyền khai thác dầu mỏ tại một địa điểm trên vùng biển Việt Nam, thu nhập nhận
được sẽ phải nộp thuế thu nhập theo quy định tại pháp luật của Việt
Nam.
2. Nghĩa vụ thuế đối vớithu nhập từ chuyển nhượng động sản
là tài sản kinh doanh của một cơ sở thường trú tại Việt
Nam
Theo quy định tại Hiệp định, Việt Nam có quyền thu thuế thu
nhập theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam đối với thu nhập
từ việc chuyển nhượng tài sản kinh doanh của cơ sở thường trú hoặc chuyển nhượng
cơ sở thường trú tại Việt Nam của một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định
với Việt Nam.
Ví dụ 42: Chi nhánh ngân hàng C của nước P (là nước đã ký
Hiệp định với Việt Nam) hoạt động tại Hà Nội. Năm 2010, chi nhánh ngừng hoạt
động và bán toàn bộ thiết bị và tài sản đã sử dụng cho mục đích kinh doanh của
chi nhánh. Thu nhập thu được từ việc chuyển nhượng trên sẽ phải kê khai nộp thuế
(sau khi trừ đi giá trị còn lại của thiết bị và tài sản) theo thuế suất thuế thu
nhập doanh nghiệp hiện hành tại Việt Nam (25%).
3. Nghĩa vụ thuế đối vớithu nhập từ chuyển nhượng tàu thuỷ,
thuyền, máy bay hoạt động trong vận tải quốc tế
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ chuyển nhượng tàu
thuỷ, thuyền, máy bay hoạt động trong vận tải quốc tế (theo định nghĩa tại Điều
12. Định nghĩa vận tải quốc tếcủa Thông tư này) do doanh nghiệp vận tải quốc tế
của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam điều hành không phải nộp thuế tại Việt
Nam.
4. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn của
các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong
một tín thác hoặc một hợp danh mà giá trị bất động sản chiếm tỷ lệ chủ yếu trong
tổng số vốn của doanh nghiệp
Trong phần lớn các Hiệp định giữa Việt Nam với các nước đều
có quy định theo đó, Việt Nam có quyền thu thuế thu nhập trong trường hợp bên
nước ngoài chuyển nhượng vốn trong các doanh nghiệp, các tín thác hoặc các hợp
danh là đối tượng cư trú của Việt Nam mà giá trị bất động sản chiếm tỷ lệ chủ
yếu trong tổng số tài sản của doanh nghiệp.
Tỷ lệ giá trị bất động sản trong tổng số tài sản của doanh
nghiệp là số bình quân đơn giản của các tỷ lệ giá trị bất động sản trong tổng số
tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm chuyển nhượng tài sản, thời điểm bắt đầu
và thời điểm kết thúc năm tính thuế ngay trước năm trong đó tài sản được chuyển
nhượng. Việc xác định giá trị bất động sản được căn cứ vào bảng tổng kết tài sản
đã được kiểm toán của doanh nghiệp tại các thời điểm nêu
trên.
Tỷ lệ chủ yếu của giá trị bất động sản trong tổng số tài
sản của doanh nghiệp được xác định như sau:
- Trường hợp tại Hiệp định có quy định cụ thể về tỷ lệ hoặc
về tỷ lệ chủ yếu thì theo tỷ lệ quy định tại Hiệp định, như tại Khoản 4, Điều
13, Hiệp định giữa Việt Nam và Tây Ban Nha quy định tỷ lệ là trên 50%, hoặc tại
Khoản 4, Điều 14, Hiệp định giữa Việt Nam và Ô-man và tại Khoản 4, Điều 13, Hiệp
định giữa Việt Nam và Các tiểu Vương quốc A-rập Thống nhất quy định tỷ lệ chủ
yếu là trên 50%.
- Trường hợp tại Hiệp định không quy định cụ thể về tỷ lệ
hoặc về tỷ lệ chủ yếu thì tính chủ yếu được xác định là trên
50%.
Ví dụ 43: Vào ngày 30/3/2012, một nhà đầu tư là đối tượng
cư trú In-đô-nê-xi-a chuyển nhượng phần vốn của mình trong một doanh nghiệp V
tại Việt Nam. Tỷ lệ giá trị bất động sản trong tổng số tài sản của doanh nghiệp
V tại các thời điểm ngày 30/3/2012, ngày 01/01/2011 và ngày 31/12/2011 lần lượt
là 60%, 40% và 53%. Việc xác định tỷ lệ chủ yếu của giá trị bất động sản trong
tổng số tài sản của doanh nghiệp V cho mục đích xác định nghĩa vụ thuế của nhà
đầu tư In-đô-nê-xi-a như sau:
Khoản 4, Điều 13: Lợi tức từ chuyển nhượng tài sản, Hiệp
định giữa Việt Nam và In-đô-nê-xi-a quy định:
“4. Lợi tức do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu
được từ việc chuyển nhượng cổ phần hay các quyền lợi tương ứng tại một công ty
có tài sản bao gồm toàn bộ hay chủ yếu là bất động sản nằm tại Nước ký kết kia
có thể bị đánh thuế tại Nước kia.”
Quy định trên không quy định tỷ lệ cụ thể của giá trị bất
động sản trong tài sản của công ty nên tỷ lệ trên 50% sẽ được coi là chủ
yếu.
Số bình quân đơn giản của các tỷ lệ giá trị bất động sản
trong tổng số tài sản của doanh nghiệp được xác định như sau:
(60% + 40% + 53%) / 3 = 51%.
Như vậy, trong ví dụ này, giá trị bất động sản đã chiếm chủ
yếu trong số tài sản của Công ty V.
5. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần
trong một công ty tại Việt Nam
Tại một số Hiệp định quy định thu nhập từ chuyển nhượng cổ
phần của một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam trong một
công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam phải chịu thuế tại Việt
Nam.
Ví dụ 44: Khoản 5, Điều 13: Lợi tức từ chuyển nhượng tài
sản, Hiệp định giữa Việt Nam và In-đô-nê-xi-a quy định:
“Lợi tức từ việc chuyển nhượng cổ phần tại một công ty là
đối tượng cư trú của một Nước ký kết không phải là cổ phần được đề cập tại khoản
4 có thể bị đánh thuế tại Nước đó.”
Theo quy định trên, nếu một đối tượng cư trú của
In-đô-nê-xi-a có thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần trong một công ty là đối
tượng cư trú của Việt Nam thì thu nhập đó sẽ chịu thuế tại Việt
Nam.
6. Nghĩa vụ thuế đối với thu nhập
từ chuyển nhượng tài sản khác tại Việt Nam
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ chuyển nhượng các
loại tài sản khác với các loại tài sản nêu tại Khoản 1 đến Khoản 5 nêu trên tại
Việt Nam của một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam không
phải nộp thuế thu nhập tại Việt Nam.
Ví dụ 45: Một công ty xây dựng của Trung Quốc đưa máy móc
sang Việt Nam thi công một công trình xây dựng trong vòng 3 tháng. Sau thời gian
thi công, công ty này về nước và bán lại số máy móc
nêu trên tại Việt Nam. Theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Trung Quốc,
công ty này không có cơ sở thường trú tại Việt Nam (Khoản 3.a, Điều 5: Cơ sở
thường trú), do đó không phải nộp thuế tại Việt Nam (Khoản 6, Điều 13: Lợi tức
từ chuyển nhượng tài sản).
Các quy định về thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng tài
sản như trên được nêu tại Điều khoản Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản (thường
là Điều 13) của Hiệp định.
Mục 9. THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CÁ NHÂN ĐỘC
LẬP
Điều 28. Định nghĩa thu nhập từ hoạt động dịch vụ cá nhân
độc lập
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ hoạt động dịch vụ
cá nhân độc lập là thu nhập do một cá nhân là đối tượng cư trú của Nước ký kết
Hiệp định với Việt Nam thu được từ hoạt động độc lập để cung ứng các dịch vụ
ngành nghề như dịch vụ khoa học, văn học, nghệ thuật, giáo dục hoặc giảng dạy,
cụ thể là hoạt động hành nghề độc lập của các bác sĩ, luật sư, kỹ sư, kiến trúc
sư, nha sĩ, kế toán và kiểm toán viên.
Thu nhập từ hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập không bao gồm
hoạt động làm thuê (được quy định tại các Điều khoản thu nhập từ Hoạt động cá
nhân phụ thuộc), tiền thù lao giám đốc (được quy định tại Điều khoản Thù lao
giám đốc), tiền lương hưu (được quy định tại Điều khoản Tiền lương hưu), phục vụ
nhà nước (được quy định tại Điều khoản thu nhập từ Phục vụ Chính phủ), thu nhập
của học sinh, sinh viên (được quy định tại Điều khoản thu nhập của Sinh
viên), giáo viên và giáo sư (được quy định tại Điều
khoản thu nhập của Giáo sư, giáo viên và nhà nghiên cứu) và hoạt động trình diễn
độc lập của các nghệ sĩ và vận động viên (được quy định tại Điều khoản thu nhập
của Nghệ sĩ và vận động viên).
Điều 29. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ hoạt
động dịch vụ cá nhân độc lập
Theo quy định tại Hiệp định, một đối tượng cư trú của Nước
ký kết Hiệp định với Việt Nam tiến hành cung cấp dịch vụ cá nhân độc lập tại
Việt Nam sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam trong các trường hợp sau
đây:
1. Cá nhân đó hành nghề độc lập thông qua một cơ sở cố
định.
Thuật ngữ “cơ sở cố định” dùng để chỉ một địa điểm hoặc địa
chỉ có tính chất thường xuyên hoặc ổn định trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà
qua đó một cá nhân thực hiện việc cung cấp dịch vụ ngành nghề (ví dụ như phòng
tư vấn khám bệnh, văn phòng kiến trúc sư hay luật sư, ...). Nguyên tắc xác định
“cơ sở cố định” tương tự như nguyên tắc xác định “cơ sở thường trú” của doanh
nghiệp nêu tại Điểm 1.2, Điều 11, Thông tư này.
2. Cá nhân đó hiện diện tại Việt
Nam từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế hoặc trong vòng 12 tháng kể từ ngày
đến Việt Nam, tùy theo từng Hiệp định.
3. Cá nhân đó thu được một tổng số thu nhập nhất định, tùy
theo từng Hiệp định, từ việc thực hiện ngành nghề độc lập tại Việt Nam trong
khoảng thời gian nhất định (thông thường là trong một năm tài
chính).
Ví dụ 46: Trong năm 2012, một bác sỹ là đối tượng cư trú
của Băng-la-đét đã tiến hành một ca mổ tại một bệnh viện quốc tế tại Việt Nam và
nhận được khoản thù lao là 50.000.000 đồng. Thời gian bác sỹ hiện diện tại Việt
Nam để tiến hành ca mổ là 5 ngày. Theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và
Băng-la-đét (Khoản 1c, Điều 15: Hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập), do thu nhập
của bác sỹ là 50.000.000 đồng (vượt quá 1.500 đô la Mỹ) nên bác sỹ này có nghĩa
vụ nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.
Các quy định về thuế đối với thu nhập từ hoạt động dịch vụ
cá nhân độc lập như trên được nêu tại Điều khoản Hoạt động dịch vụ cá nhân độc
lập (thường là Điều 14) của Hiệp định.
Mục 10. THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CÁ NHÂN PHỤ
THUỘC
Điều 30. Định nghĩa thu nhập từ dịch vụ cá nhân phụ
thuộc
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ hoạt động dịch vụ
cá nhân phụ thuộc là thu nhập dưới hình thức tiền công do một cá nhân là đối
tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thu được từ hoạt động làm
công tại Việt Nam và ngược lại. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ cá nhân phụ thuộc
không bao gồm thu nhập của các cá nhân với tư cách cá nhân hành nghề độc lập
(được quy định tại Điều khoản Dịch vụ ngành nghề độc lập), thành viên ban giám
đốc doanh nghiệp (được quy định tại Điều khoản Thù lao giám đốc), nghệ sĩ, vận
động viên (được quy định tại Điều khoản thu nhập của Nghệ sĩ và vận động viên),
nhân viên phục vụ cho Chính phủ nước ngoài (được quy định tại Điều khoản thu
nhập từ Phục vụ Chính phủ), và tiền công dưới hình thức tiền lương hưu (được quy
định tại Điều khoản Tiền lương hưu).
Điều 31. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ dịch vụ
cá nhân phụ thuộc
1. Theo quy định tại Hiệp định, một cá nhân là đối tượng cư
trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam có thu nhập từ hoạt động làm công tại
Việt Nam sẽ phải nộp thuế thu nhập đối với khoản thu nhập làm công đó tại Việt
Nam theo các quy định hiện hành về thuế thu nhập cá nhân của Việt
Nam.
Ví dụ 47: Trong năm 2012, ông A là đối tượng cư trú của
nước Pháplàm việc cho chi nhánh ngân hàng F là chi nhánh nước ngoài của một ngân
hàng Pháp tại Việt Nam trong vòng 2 tháng. Toàn bộ tiền lương và thu nhập khác
của ông A do chi nhánh F thanh toán. Trong năm trước và sau đó, ông A không hiện
diện tại Việt Nam. Trong trường hợp này, ông A có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá
nhân đối với khoản thu nhập nhận được từ thời gian làm việc tại Việt Nam theo
các quy định hiện hành về thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.
2. Nếu cá nhân nêu tại Khoản 1 đồng thời thỏa mãn cả 3 điều
kiện sau đây, tiền công thu được từ công việc thực hiện tại Việt Nam sẽ được
miễn thuế thu nhập tại Việt Nam:
a) Cá nhân đó có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong giai
đoạn 12 tháng bắt đầu hoặc kết thúc trong năm tính thuế;
và
b) Chủ lao động không phải là đối tượng cư trú của Việt Nam
bất kể tiền công đó được trả trực tiếp bởi chủ lao động hoặc thông qua một đối
tượng đại diện cho chủ lao động; và
c) Tiền công đó không do một cơ sở thường trú mà chủ lao
động có tại Việt Nam chịu và phải trả.
Ví dụ 48:Công ty N của Nhật Bản tham gia thành lập liên
doanh S chuyên phân phối hàng hóa tại Việt Nam. Trong năm 2012, Công ty N cử ông
Z sang Việt Nam với tư cách đại diện công ty để đàm phán hợp đồng về việc Công
ty N cung cấp “bí quyết” bán hàng cho liên doanh S trong thời gian một tháng.
Trong năm trước và sau đó ông Z không hiện diện tại Việt Nam. Toàn bộ thu nhập
và chi phí của ông Z trong thời gian làm việc tại Việt Nam do Công ty N chi trả.
Trong trường hợp này, ông Z đã đồng thời thỏa mãn cả 3 điều kiện nêu tại Khoản 2
nêu trên nên được miễn thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.
3. Khái niệm “chủ lao động” nêu tại Điểm 2.b) dùng để chỉ
đối tượng sử dụng lao động thực sự. Thông thường, một đối tượng được coi là chủ
lao động thực sự nếu có các quyền và nghĩa vụ sau:
a) Đối tượng đó có quyền đối với sản phẩm và dịch vụ do
người lao động tạo ra và chịu trách nhiệm cũng như rủi ro đối với lao động
đó;
b) Đối tượng đó đưa ra hướng dẫn và cung cấp phương tiện
lao động cho người lao động;
c) Đối tượng đó có quyền kiểm soát và chịu trách nhiệm về
địa điểm lao động.
Ví dụ 49: Cũng với Ví dụ 48 nêu trên, trong năm 2013, ông Z
sang Việt Nam với tư cách là chuyên gia của liên doanh S để hướng dẫn áp dụng
“bí quyết” trong giai đoạn 3 tháng. Trong năm trước và sau đó, ông Z không hiện
diện tại Việt Nam. Với tinh thần trợ giúp cho liên doanh S, toàn bộ thu nhập và
chi phí của ông Z trong thời gian làm việc tại Việt Nam do Công ty N chi trả.
Trong trường hợp này, về hình thức, ông Z đã đồng thời thỏa mãn cả 3 điều kiện
của Khoản 2 nêu trên, nhưng về bản chất, đối với các tiêu thức về chủ lao động
thực sự thì chủ lao động thực sự của ông Z trong thời gian làm việc tại Việt Nam
là liên doanh S, không phải Công ty N. Do đó, ông Z không được miễn thuế thu
nhập cá nhân tại Việt Nam.
4. Trường hợp người Việt Nam là đối tượng cư trú của Nước
ký kết Hiệp định với Việt Nam không có thu nhập từ hoạt động làm công tại Việt
Nam mà chỉ có thu nhập từ hoạt động làm công tại nước ngoài sẽ không phải nộp
thuế thu nhập tại Việt Nam đối với khoản tiền công đó.
Ví dụ 50: Trong năm 2011, Công ty xây dựng V của Việt Nam
đã cử các công nhân sang Lào làm việc tại một công trình của Công ty tại Lào
trong toàn bộ thời gian 12 tháng. Thu nhập từ tiền lương của số công nhân này do
các công việc tại Lào sẽ không phải chịu thuế tại Việt Nam.
5. Cá nhân là người làm công trên các tàu thủy, thuyền, máy
bay (thủy thủ đoàn, phi hành đoàn) trong hoạt động vận tải quốc tế của doanh
nghiệp là đối tượng cư trú hoặc có trụ sở điều hành thực tế tại Việt Nam sẽ phải
nộp thuế thu nhập tại Việt Nam.
Ví dụ 51: Công ty S là doanh nghiệp
vận tải biển của Việt Nam có thuê tàu thủy và đoàn thủy thủ là người nước ngoài
để khai thác tuyến vận tải quốc tế Trung Quốc – Xinh-ga-po thì Công ty S có
nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo pháp luật Việt Nam đối với tiền
lương trả cho các cá nhân là thành viên đoàn thủy thủ mặc dù khoản tiền lương
này là một phần trong chi phí thuê tàu.
Các quy định về thuế đối với thu nhập từ hoạt động dịch vụ
cá nhân phụ thuộc như trên được nêu tại Điều khoản Hoạt động dịch vụ cá nhân phụ
thuộc (thường là Điều 15) của Hiệp định.
Mục 11. THU NHẬP TỪ THÙ LAO GIÁM ĐỐC
Điều 32. Định nghĩa thu nhập từ thù lao giám
đốc
Theo quy định tại Hiệp định, thù lao giám đốc là thu nhập
do một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam nhận được tại
Việt Nam với tư cách là thành viên ban Giám đốc công ty, Hội đồng quản trị công
ty hoặc người giữ chức vụ quản lý cao cấp trong một doanh nghiệp là đối tượng cư
trú của Việt Nam; và ngược lại. Thu nhập này không bao gồm tiền lương do các
thành viên trên nhận được từ việc thực hiện các chức năng khác trong doanh
nghiệp như người làm công, người tư vấn, cố vấn và tiền lương của các cá nhân
nước ngoài giữ chức vụ trong văn phòng đại diện các công ty nước ngoài đặt tại
Việt Nam. Các khoản thu nhập thông thường đó được coi là thu nhập từ hoạt động
dịch vụ cá nhân phụ thuộc (quy định tại Mục 10. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ cá
nhân phụ thuộc, Chương II, Thông tư này).
Điều 33. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ thù lao
giám đốc
Theo quy định tại Hiệp định, trường hợp cá nhân là đối
tượng cư trú tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam nhận được thù lao với tư
cách là thành viên ban Giám đốc công ty, Hội đồng quản trị công ty hay với tư
cách là người giữ chức vụ quản lý cao cấp trong công ty là đối tượng cư trú của
Việt Nam, cá nhân đó sẽ phải nộp thuế đối với khoản thu nhập đó theo các quy
định về thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam (không phân biệt cá nhân đó có mặt
tại Việt Nam hay không).
Ví dụ 52: Một đối tượng cư trú của Anh là thành viên Hội
đồng quản trị của một liên doanh tại Việt Nam. Trong năm 2012, đối tượng đó chỉ
sang Việt Nam làm việc với tổng số 60 ngày và nhận được thù lao với tư cách là
thành viên Hội đồng quản trị. Căn cứ Hiệp định giữa Việt Nam và Anh và quy định
của luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành tại Việt Nam, đối tượng này phải nộp
thuế thu nhập cá nhân đối với thù lao nhận được với tư cách là thành viên Hội
đồng quản trị với thuế suất hiện hành tại Việt Nam (20%) tính trên tổng thu nhập
nhận được của đối tượng không cư trú của Việt Nam.
Các quy định về thuế đối với thu nhập từ thù lao của giám
đốc như trên được nêu tại Điều khoản Thù lao Giám đốc (thường là Điều 16) của
Hiệp định.
Mục 12. THU NHẬP TỪ CÁC HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN CỦA NGHỆ SĨ VÀ
VẬN ĐỘNG VIÊN
Điều 34. Định nghĩa thu
nhập từ các hoạt động biểu diễncủa nghệ sĩ và vận động viên
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhậptừ các hoạt động biểu
diễncủa nghệ sĩ và vận động viên là thu nhập từ hoạt động trình diễn nghệ thuật,
thể thao tại Việt Nam của bản thân nghệ sĩ, vận động viên là đối tượng cư trú
tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam; và ngược lại.
Điều 35. Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ các
hoạt động biểu diễncủa nghệ sĩ và vận động viên
1. Mặc dù có các quy định tại các Mục 9. Thu nhập từ hoạt
động ngành nghề độc lập và Mục 10. Thu nhập từ hoạt động cá nhân phụ thuộc,
Chương II, Thông tư này, trường hợp cá nhân là đối tượng cư trú của Nước ký kết
Hiệp định với Việt Nam tiến hành hoạt động trình diễn nghệ thuật, thể thao tại
Việt Nam và nhận được thu nhập từ hoạt động trình diễn đó thì sẽ phải nộp thuế
thu nhập theo pháp luật Việt Nam.
Ví dụ 53: Trong năm 2012, theo lời mời của Công ty biểu
diễn V của Việt Nam một ca sỹ là đối tượng cư trú của Hàn Quốc đã có một buổi
biểu diễn tại Việt Nam và nhận được khoản thù lao là 500.000.000 đồng. Thời gian
ca sỹ hiện diện tại Việt Nam để tham gia đợt biểu diễn là 3 ngày. Theo quy định
của Hiệp định giữa Việt Nam và Hàn Quốc (Khoản 1, Điều 17: Nghệ sĩ và vận động
viên) ca sỹ này có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt
Nam.
2. Mặc dù có các quy định tại các Mục 2. Thu nhập từ hoạt
động kinh doanh, Mục 9. Thu nhập từ hoạt động ngành nghề độc lập và Mục 10. Thu
nhập từ hoạt động cá nhân phụ thuộc, Chương II, Thông tư này, trong trường hợp
thu nhập từ hoạt động trình diễn nghệ thuật, thể thao tại Việt Nam của cá nhân
là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam không trả cho cá nhân
biểu diễn mà trả cho đối tượng khác thì thu nhập đó sẽ phải nộp thuế tại Việt
Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Ví dụ 54: Cũng với Ví dụ 53 nêu trên, ca sỹ Hàn Quốc sang
biểu diễn tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng (được đàm phán và ký kết tại Hàn
Quốc) giữa Công ty biểu diễn V của Việt Nam và Công ty Ngôi sao của Hàn Quốc.
Theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Hàn Quốc (Khoản 2, Điều 17: Nghệ sĩ
và vận động viên) khoản thu nhập của Công ty Ngôi sao từ hợp đồng này sẽ phải
chịu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam.
3. Trường hợp hoạt động trình diễn nghệ thuật, thể thao của
cá nhân, công ty là đối tượng cư trú tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam được
thực hiện trong khuôn khổ chương trình trao đổi văn hóa giữa Chính phủ hai nước,
thì thu nhập từ hoạt động trình diễn tại Việt Nam của cá nhân, công ty nước
ngoài sẽ được miễn thuế tại Việt Nam nếu tại Hiệp định giữa Việt Nam và Nước đó
có quy định như vậy.
Ví dụ 55: Trong năm 2012, trong khuôn khổ giao lưu văn hóa
được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Hàn Quốc, một ca sỹ là đối
tượng cư trú của Hàn Quốc đã có một buổi biểu diễn tại Việt Nam và nhận được
khoản thù lao là 500.000.000 đồng. Theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và
Hàn Quốc (Khoản 3, Điều 17: Nghệ sĩ và vận động viên) ca sỹ này không có nghĩa
vụ nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam.
Các quy định về thuế đối với thu nhập của các nghệ sĩ và
vận động viên như trên được nêu tại Điều khoản Nghệ sĩ và vận động viên (thường
là Điều 17) của Hiệp định.
Mục 13. THU NHẬP TỪ TIỀN LƯƠNG HƯU
Điều 36. Định nghĩa thu nhậptừ tiền lương
hưu
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ tiền lương hưu là
tiền lương hưu do đối tượng cư trú của nước ký kết Hiệp định với Việt Nam nhận
được từ công việc trước đây làm tại Việt Nam; và ngược lại. Thu nhập từ tiền
lương hưu quy định tại Điều này không bao gồm tiền lương hưu do Chính phủ, cơ
quan chính quyền địa phương của Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam
chi trả vì khoản thu nhập này được coi là thu nhập từ hoạt động phục vụ Chính
phủ (quy định tại Mục 14: Thu nhập từ hoạt động phục vụ Chính phủ, Chương II,
Thông tư này).
Điều 37. Xác định nghĩa
vụ thuế đối với thu
nhậptừ tiền lương hưu
Tùy theo từng Hiệp định cụ thể, thu
nhập là tiền lương hưu sẽ phải chịu thuế:
a) Chỉ tại nước nơi đối tượng nhận lương hưu là đối tượng
cư trú; hoặc
b) Chỉ tại nước nơi tiền lương hưu được trả;
hoặc
c) Đồng thời tại nước cư trú của đối tượng nhận lương hưu
và tại nước phát sinh nguồn lương hưu nếu đối tượng trả lương hưu là đối tượng
cư trú hoặc là cơ sở thường trú tại nước đó.
Ví dụ 56: Ông F là một công dân Pháp và làm việc cho khu
vực tư nhân tại Pháp, khi về hưu sang sinh sống tại Việt
Ví dụ 57: Ông M là một công dân Ô-man và làm việc cho khu
vực tư nhân tại Ô-man. Trong thời gian làm việc, ông M đã đóng bảo hiểm hưu trí
cho Quỹ bảo hiểm hưu trí của Chính phủ Ô-man, khi về hưu sang sinh sống tại Việt
Ví dụ 58: Ông M là một đối tượng cư trú của Đan Mạch và làm
việc cho khu vực tư nhân tại Đan Mạch, khi về hưu sang sinh sống tại Việt
Các quy định về thuế đối với thu nhập từ tiền lương hưu như
trên được nêu tại Điều khoản Tiền lương hưu (thường là Điều 18) của Hiệp
định.
Mục 14. THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG PHỤC VỤ CHÍNH
PHỦ
Điều 38. Định nghĩa thu
nhậptừ hoạt động phục vụ Chính phủ
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ hoạt động phục vụ
Chính phủ là các khoản thu nhập tiền công, tiền lương, tiền lương hưu do Chính
phủ, chính quyền địa phương của một Nước ký kết Hiệp định trả cho một cá nhân để
người đó thực hiện các nhiệm vụ cho Nước ký kết đó.
Điều 39. Xác định nghĩa
vụ thuế đối với thu nhậptiền lương từ hoạt động phục vụ Chính
phủ
1. Trường hợp người nước ngoài do Chính phủ của Nước ký kết
Hiệp định với Việt Nam cử sang Việt Nam làm việc cho các tổ chức của Chính phủ
nước đó đặt tại Việt Nam hoặc cho các chương trình hợp tác kinh tế, văn hoá,
viện trợ giữa hai nước, thì tiền lương, tiền công do Chính phủ nước ngoài trả
cho cá nhân đó sẽ được miễn thuế thu nhập tại Việt Nam cho dù vì mục đích thực
hiện các công việc như vậy mà đối tượng đó trở thành đối tượng cư trú của Việt
Nam.
Ví dụ 59: Ông J là một công dân Nhật Bản làm việc cho văn
phòng JICA (thuộc Chính phủ Nhật Bản) tại Việt
2. Tiền lương, tiền công do Chính phủ một Nước ký kết Hiệp
định với Việt Nam sẽ chỉ bị đánh thuế tại Việt Nam nếu được trả cho một cá nhân
là đối tượng cư trú của Việt Nam để thực hiện các công việc cho Chính phủ nước
ngoài tại Việt Nam và cá nhân này thỏa mãn một trong hai điều kiện dưới
đây:
a) Mang quốc tịch Việt
b) Đã là đối tượng cư trú của Việt
Ví dụ 60: Ông V là một công dân Việt
Điều 40. Xác định nghĩa
vụ thuế đối với thu nhậptiền lương hưu từ hoạt động phục vụ Chính
phủ
Khi một cá nhân nhận được tiền lương hưu được trả từ một
quỹ do Nhà nước Việt Nam hay các cơ quan chính quyền địa phương của Việt Nam lập
ra (sau đây gọi chung là Nhà nước Việt Nam), hoặc được trả bởi chính Nhà nước
Việt Nam do việc làm công trước đó cho Nhà nước Việt Nam thì tiền lương hưu này
sẽ chỉ chịu thuế tại Việt Nam; trừ khi cá nhân nói trên vừa là đối tượng cư trú
của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam và vừa mang quốc tịch của Nước ký kết đó.
Trong trường hợp cá nhân nói trên vừa là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp
định với Việt Nam và vừa mang quốc tịch của Nước ký kết đó, thu nhập tiền lương
hưu của cá nhân này sẽ chỉ chịu thuế tại Nước ký kết đó.
Ví dụ 61: Ông V là một công dân Việt Nam làm việc cho Chính
phủ Việt Nam. Khi về hưu, ông V sang sinh sống tại Nhật Bản. Khi đó, tiền lương
hưu do việc làm công cho Chính phủ Việt Nam sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân
tại Nhật Bản (Khoản 2.a., Điều 19, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật
Bản).
Ví dụ 62: Ông J là một công dân
Nhật Bản làm việc cho Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản. Khi về hưu, ông J vẫn
sinh sống tại Nhật Bản. Khi đó, tiền lương hưu do việc làm công cho Chính phủ
Việt Nam sẽ chỉ chịu thuế thu nhập cá nhân tại Nhật Bản (Khoản 2.b., Điều 19,
Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản).
Điều 41. Xác định nghĩa
vụ thuế đối với thu nhậptiền lương và tiền lương hưu từ hoạt động kinh doanh của
Chính phủ
Mặc dù đã có các quy định tại các Điều 39 và 40 nêu trên,
việc đánh thuế đối với tiền lương, tiền công hay tiền lương hưu do Chính phủ
nước ngoài trả cho một cá nhân vì tham gia các hoạt động kinh doanh của Chính
phủ nước ngoài tại Việt Nam như hoạt động của doanh nghiệp vận tải đường sắt,
bưu chính hoặc công ty biểu diễn Nhà nước sẽ được áp dụng theo quy định, tùy
theo từng trường hợp, tại các Mục 10. Thu nhập từ hoạt động cá nhân phụ thuộc,
Mục 11. Thu nhập từ thù lao giám đốc, Mục 12. Thu nhập của Nghệ sĩ và vận động
viên và Mục 13. Thu nhập từ lương hưu, Chương II, Thông tư
này.
Các quy định về thuế đối với thu nhập từ hoạt động phục vụ
Chính phủ như trên được nêu tại Điều khoản Hoạt động phục vụ Chính phủ (thường
là Điều 19) của Hiệp định.
Mục 15. THU NHẬP CỦA SINH VIÊN, THỰC TẬP SINH VÀ HỌC SINH
HỌC NGHỀ
Điều 42. Định nghĩa thu
nhậpcủa sinh viên, thực tập sinh và học sinh học nghề
Theo quy định tại Hiệp định, thu
nhập của sinh viên, thực tập sinh và học sinh học nghề nước ngoài tại Việt Nam
phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, học nghề tại Việt Nam, thuộc phạm vi điều
chỉnh của điều khoản này chỉ bao gồm:
1. Thu nhập nhận được từ các nguồn tại nước ngoài để phục
vụ cho mục đích học tập, sinh hoạt tại Việt Nam.
2. Thu nhập nhận được từ công việc tại Việt Nam có liên
quan trực tiếp đến hoạt động học tập, nghiên cứu, học nghề tại Việt Nam (trong
trường hợp Hiệp định có quy định). Tại một số Hiệp định, khoản thu nhập này chỉ
được miễn thuế trong phạm vi một mức thu nhập nhất định.
Điều 43. Xác định nghĩa
vụ thuế đối với thu nhậpcủa sinh viên, thực tập sinh và học sinh học
nghề
Trường hợp sinh viên, thực tập sinh, học sinh nước ngoài
ngay trước khi sang Việt Nam học tập, nghiên cứu, học nghề là đối tượng cư trú
của nước ký Hiệp định với Việt Nam, sinh viên, thực tập sinh, học sinh nước
ngoài đó sẽ được miễn thuế thu nhập tại Việt Nam đối với các loại thu nhập được
nêu tại Điều 42.
Ví dụ 63: Một sinh viên là đối tượng cư trú của Trung Quốc
sang Việt Nam để nghiên cứu nghệ thuật dân gian trong thời gian 4 năm. Trong
thời gian nghiên cứu tại Việt Nam, anh ta nhận được học bổng 800.000 đồng/tháng
từ Trung Quốc, dạy tiếng Trung Quốc cho một trường ở Hà Nội với thu nhập 50 đô
la Mỹ/tháng và tham gia biểu diễn nghệ thuật dân gian Việt Nam với tổng thu nhập
2.500 đô la Mỹ/năm. Theo quy định tại Hiệp định giữa Việt Nam và Trung Quốc
(Điều 20: Sinh viên, học sinh học nghề và thực tập sinh), sinh viên này được
miễn thuế thu nhập cá nhân với tiền học bổng, thu nhập từ biểu diễn trong phạm
vi 2.000 đô la Mỹ; và nộp thuế thu nhập đối với thu nhập từ dạy học và phần vượt
trên 2.000 đô la Mỹ của thu nhập biểu diễn.
Các quy định về thuế đối với thu nhập của sinh viên, thực
tập sinh, học sinh học nghề như trên được nêu tại Điều khoản Sinh viên, thực tập
sinh và học sinh học nghề (thường là Điều 20) của Hiệp
định.
Mục 16. THU NHẬP CỦA GIÁO VIÊN, GIÁO SƯ VÀ NGƯỜI NGHIÊN
CỨU
Điều 44. Định nghĩa thu
nhập của giáo viên, giáo sư và người nghiên cứu
Trong một số Hiệp định có quy định riêng về việc xử lý thuế
đối với thu nhập của giáo viên, giáo sư và người nghiên cứu nước ngoài từ hoạt
động giảng dạy, thuyết trình, nghiên cứu tại Việt Nam. Thu nhập này bao gồm thu
nhập phát sinh từ các hoạt động giảng dạy, thuyết trình, nghiên cứu tại các
trường đại học hoặc cơ sở giáo dục được Chính phủ Việt Nam thừa
nhận.
Điều 45. Xác định nghĩa
vụ thuế đối với thu nhậpcủa giáo viên, giáo sư và người nghiên
cứu
1. Thu nhập của giáo viên, giáo sư và người nghiên cứu nước
ngoài từ hoạt động giảng dạy, thuyết trình, nghiên cứu tại Việt Nam theo Điều 44
nêu trên sẽ được miễn thuế tại Việt Nam (trong khoảng thời gian quy định tại
Hiệp định) nếu các điều kiện dưới đây được thỏa mãn:
- Ngay trước khi sang Việt Nam giảng dạy, thuyết trình,
nghiên cứu, giáo viên, giáo sư, người nghiên cứu nước ngoài là đối tượng cư trú
của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam; và
- Việc giảng dạy, thuyết trình, nghiên cứu được tiến hành
tại các trường đại học hoặc cơ sở giáo dục được Chính phủ Việt Nam thừa
nhận.
Ví dụ 64: Theo Chương trình liên kết giữa một trường Đại
học V của Việt Nam và một trường Đại học P của Phi-líp-pin, bắt đầu từ năm học
2012, trường Đại học P đã cử một giáo viên sang giảng dạy tại trường Đại học V
trong thời gian 3 năm. Người giáo viên này sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân
tại Việt Nam đối với thu nhập từ việc giảng dạy tại Đại học V trong thời gian 2
năm kể từ khi đến Việt Nam và sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam đối
với thu nhập từ việc giảng dạy tại Đại học V trong năm thứ 3 (Khoản 1, Điều 21:
Giáo viên, giáo sư và nhà nghiên cứu, Hiệp định giữa Việt Nam và
Phi-líp-pin).
2. Việc miễn thuế như trên không áp dụng đối với trường hợp
hoạt động giảng dạy, nghiên cứu phục vụ cho mục đích riêng của một cá nhân hoặc
của một tổ chức tư nhân.
Ví dụ 65: Theo hợp đồng ký với một bệnh viện tư nhân V của
Việt Nam, trong năm 2012, một giáo sư là đối tượng cư trú của Phi-líp-pin (với
tư cách một bên trong hợp đồng) sang nghiên cứu tại bệnh viện này trong 12
tháng. Giáo sư này sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam đối với thu
nhập từ hoạt động nghiên cứu theo hợp đồng.
Các quy định về thuế đối với thu nhập của giáo viên, giáo
sư và người nghiên cứu như trên được nêu tại Điều khoản Giáo viên, giáo sư và
nhà nghiên cứu (thường là Điều 21) của Hiệp định.
Mục 17. THU NHẬP KHÁC
Điều 46. Định nghĩa thu
nhập khác
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập khác là toàn bộ các
khoản thu nhập chưa được đề cập tại các điều khoản khác của Hiệp định, ví dụ
như: thu nhập từ trúng thưởng xổ số, thắng cá cược tại các casino, thu nhập từ
tiền cấp dưỡng theo nghĩa vụ hôn nhân gia đình, …
Điều 47. Xác định nghĩa
vụ thuế đối với thu nhập khác
1. Theo quy định tại Hiệp định, một đối tượng cư trú tại
Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam có các khoản thu nhập khác từ Việt Nam sẽ
phải nộp thuế theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam. Tuy
nhiên, tại một số Hiệp định (như Hiệp định giữa Việt Nam và Pháp, Việt Nam và
Anh), Việt Nam cam kết miễn thuế đối với thu nhập khác trong trường hợp
này.
Ví dụ 66: Ông H là một đối tượng cư trú tại Trung Quốc và
ông P là một đối tượng cư trú của Pháp, trong một chuyến du lịch hai tuần tại
Việt Nam, cả hai ông đều trúng thưởng xổ số 20 triệu đồng tại Hà Nội. Theo quy
định về thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam, đây là khoản thu nhập không thường
xuyên nên cả hai ông đều có nghĩa vụ nộp thuế tại Việt Nam đối với số tiền trúng
thưởng này. Theo Hiệp định giữa Việt Nam và Trung Quốc (Khoản 2, Điều 22: Thu
nhập khác), Việt Nam có thể thu thuế đối với thu nhập của ông H. Theo Hiệp định
giữa Việt Nam và Pháp (Khoản 1, Điều 20: Thu nhập khác), thu nhập của ông P được
miễn thuế tại Việt Nam.
2. Trường hợp khoản thu nhập khác liên quan đến cơ sở
thường trú tại Việt Nam của một đối tượng cư trú của Nước ký kết với Việt Nam
thì Việt Nam có quyền thu thuế đối với khoản thu nhập đó theo quy định của pháp
luật hiện hành về thuế ở Việt Nam và phù hợp với quy định tại các Mục 2. Thu
nhập từ hoạt động kinh doanh và Mục 9. Thu nhập từ hoạt động ngành nghề độc lập,
tùy theo từng trường hợp, Chương II, Thông tư này.
Ví dụ 67: Chi nhánh ngân hàng V là chi nhánh tại Việt Nam
của ngân hàng Nhật Bản S mua một xe ô tô của một công ty tại nước X và trúng
thưởng khuyến mại 10.000 đô la Mỹ. Chiếc ô tô này được sử dụng cho mục đích kinh
doanh của chi nhánh V.Mặc dù theo chính sách nội bộ của ngân hàng S, các khoản
thu nhập như vậy phải được coi như thu nhập của trụ sở chính và chuyển về tài
khoản của ngân hàng S tại Nhật Bản, khoản thu nhập từ tiền thưởng này vẫn được
coi là có liên quan thực tế đến chi nhánh V - một cơ sở thường trú của ngân hàng
S tại Việt Nam theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản (Khoản 2,
Điều 21) và vì vậy Việt Nam có quyền thu thuế đối với thu nhập này theo quy định
của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam và phù hợp với quy định tại Mục 2.
Thu nhập từ hoạt động kinh doanh, Chương II, Thông tư này (Điều 7 của Hiệp định
giữa Việt Nam và Nhật Bản).
Các quy định về thuế đối với thu nhập khác như trên được
nêu tại Điều khoản Thu nhập khác (thường là Điều 22) của Hiệp
định.
Chương III
BIỆN PHÁP TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN TẠI VIỆT
NAM
Theo quy định tại Hiệp định, khi một đối tượng nộp thuế là
đối tượng cư trú của Việt Nam, có thu nhập từ Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam
và đã nộp thuế tại nước này (theo quy định của Hiệp định và pháp luật nước đó),
Việt Namvẫn có thể có quyền thu thuế đối với các khoản thu nhập này nhưng đồng
thời Việt Nam cũng có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp tránh đánh thuế hai lần
để đối tượng nộp thuế đó không bị nộp thuế hai lần.
Tùy theo mỗi Hiệp định đã ký kết, Việt Nam có thể sẽ thực
hiện một biện pháp hoặc kết hợp các biện pháp tránh đánh thuế hai lần theo quy
định tại các Điều 48, Điều 49, Điều 50 Thông tư này.
Điều 48. Biện pháp khấu
trừ thuế
Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam có thu nhập và
đã nộp thuế tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam, nếu tại Hiệp định, Việt Nam
cam kết thực hiện biện pháp khấu trừ thuế thì khi đối tượng cư trú này kê khai
thuế thu nhập tại Việt Nam, các khoản thu nhập đó sẽ được tính vào thu nhập chịu
thuế tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam và số
tiền thuế đã nộp ở Nước ký kết sẽ được khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt
Nam. Việc khấu trừ thuế thực hiện theo các nguyên tắc dưới
đây:
a) Thuế đã nộp ở Nước ký kết được khấu trừ là sắc thuế được
quy định tại Hiệp định;
b) Số thuế được khấu trừ không vượt quá số thuế phải nộp
tại Việt Nam tính trên thu nhập từ Nước ký kết theo quy định pháp luật hiện hành
về thuế ở Việt Nam nhưng cũng không được khấu trừ hoặc hoàn số thuế đã nộp cao
hơn ở nước ngoài;
c) Số thuế đã nộp ở Nước ký kết được khấu trừ là số thuế
phát sinh trong thời gian thuộc năm tính thuế tại Việt
Nam.
Ví dụ 68: Ông A là một công dân Lào và là đối tượng cư trú
của Việt Nam trong năm 2011. Trong năm 2011, ông A có thu nhập tính thuế từ làm
công 8 tháng tại Việt Nam là 40.000.000 đồng và 4 tháng (giai đoạn từ tháng
9/2011 đến tháng 12/2011) tại nước Lào là 80.000.000 đồng. Năm tính thuế của Lào
từ ngày 01/10 đến ngày 30/9 năm sau. Theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam
và Lào (Khoản 1, Điều 15: Hoạt động dịch vụ cá nhân phụ thuộc) ông A phải nộp
thuế tại Lào đối với thu nhập có được từ nước này với mức thuế suất theo quy
định của Luật thuế nước này (20%). Giả sử ngoài các thu nhập vừa nêu, ông A
không có các nguồn thu nhập nào khác. Trong trường hợp này, việc kê khai nộp
thuế và khấu trừ thuế đã nộp tại Lào của ông A ở Việt Nam như
sau:
- Xác định thu nhập tính thuế của ông A trong năm tính thuế
2011 (theo pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam):
(40.000.000 đồng + 80.000.000 đồng) = 120.000.000
đồng
- Xác định thuế thu nhập của ông A trong năm tính thuế 2011
(theo pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam):
(60.000.000 đồng x 5% + 60.000.000 đồng x 10%) = 9.000.000
đồng
- Số thuế đã nộp tại Lào (theo Luật thuế của
Lào):
80.000.000 đồng x 20% = 16.000.000 đồng
- Số thuế tính theo pháp luật Việt
Nam trên thu nhập phát sinh tại nước Lào:
9.000.000 đồng : 12 tháng x 4 tháng = 3.000.000
đồng
Vậy ông A chỉ được khấu trừ 3.000.000 đồng trên tổng số
thuế 16.000.000 đồng đã nộp trên 80.000.000 đồng thu nhập tiền công phát sinh
tại Lào.
Ví dụ 69: Công ty V của Việt Nam có một cơ sở thường trú
tại Lào. Trong năm 2010, cơ sở thường trú này được xác định có khoản thu nhập là
100.000 đô la Mỹ. Theo quy định tại Hiệp định giữa Việt Nam và Lào (Khoản 1,
Điều 7: Lợi tức doanh nghiệp), Công ty V có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập theo Luật
thuế Lào đối với số thu nhập được xác định của cơ sở thường trú này (thuế suất
20%). Trong trường hợp này, việc kê khai nộp thuế và khấu trừ thuế đã nộp tại
Lào của Công ty V ở Việt Nam như sau:
- Xác định số thuế đã nộp tại Lào (theo Luật thuế
Lào):
100.000 đô la Mỹ x 20% = 20.000 đô la Mỹ
- Xác định số thuế phải nộp tại Việt Nam (theo quy định
pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam):
100.000 đô la Mỹ x 25% = 25.000 đô la Mỹ
- Số thuế còn phải nộp tại Việt Nam:
25.000 đô la Mỹ - 20.000 đô la Mỹ = 5.000 đô la
Mỹ
Ví dụ 70: Cũng với Ví dụ 69 nêu trên, giả sử Công ty V là
công ty liên doanh và được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại
Việt Nam là 10%. Khi đó, việc kê khai nộp thuế và khấu trừ thuế đã nộp tại Lào
của Công ty V ở Việt Nam như sau:
- Xác định số thuế đã nộp tại Lào (theo Luật thuế
Lào):
100.000 đô la Mỹ x 20% = 20.000 đô la Mỹ
- Xác định số thuế phải nộp tại Việt Nam (theo quy định
pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam):
100.000 đô la Mỹ x 10% = 10.000 đô la Mỹ
- Số thuế tối đa được khấu trừ tại Việt Nam: 10.000 đô la
Mỹ
Trong trường hợp này, Công ty V được khấu trừ 10.000 đô la
Mỹ trong tổng số 20.000 đô la Mỹ tiền thuế đã nộp tại Lào. Phần chênh lệch
10.000 đô la Mỹ (20.000 đô la Mỹ - 10.000 đô la Mỹ) không được khấu trừ vào số
thuế thu nhập đối với thu nhập từ trong nước (nếu có) của Công ty V và cũng
không được chuyển sang năm sau.
Điều 49. Biện pháp khấu
trừ số thuế khoán
Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam có thu nhập và
phải nộp thuế tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam (theo mức thuế được miễn
hoặc giảm như một ưu đãi đặc biệt), nếu tại Hiệp định, Việt Nam cam kết thực
hiện Biện pháp khấu trừ số thuế khoán thì khi đối tượng cư trú đó kê khai thuế
thu nhập tại Việt Nam, các khoản thu nhập đó sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế
tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam và số tiền
thuế khoán sẽ được khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt Nam. Số thuế khoán là
số thuế lẽ ra đối tượng cư trú của Việt Nam phải nộp tại Nước ký kết Hiệp định
với Việt Nam trên khoản thu nhập phát sinh tại Nước ký kết đó, nhưng theo quy
định tại luật của Nước ký kết đó được miễn hoặc giảm như một biện pháp ưu đãi
đặc biệt.
Việc khấu trừ thuế thực hiện theo các nguyên tắc dưới
đây:
a) Thuế đã nộp hoặc coi như đã nộp ở Nước ký kết được khấu
trừ phải là sắc thuế được quy định tại Hiệp định;
b) Số thuế được khấu trừ không vượt quá số thuế phải nộp
tại Việt Nam tính trên thu nhập từ Nước ký kết theo quy định pháp luật hiện hành
về thuế ở Việt Nam;
c) Số thuế đã nộp ở Nước ký kết được khấu trừ là số thuế
phát sinh trong thời gian thuộc năm tính thuế tại Việt
Nam.
Ví dụ 71: Công ty Q của Việt Nam có một cơ sở thường trú
tại U-dơ-bê-ki-xtăng. Trong năm 2010, cơ sở thường trú này được xác định có
khoản thu nhập là 100.000 đô la Mỹ. Theo quy định tại Luật thuế
U-dơ-bê-ki-xtăng, khoản thu nhập này được miễn thuế như một biện pháp ưu đãi đặc
biệt (trường hợp không được miễn, sẽ phải nộp thuế với mức thuế suất 33%). Công
ty Q có nghĩa vụ nộp thuế tại Việt Nam theo mức thuế suất hiện hành (25%). Theo
quy định tại Hiệp định giữa Việt Nam và U-dơ-bê-ki-xtăng (Khoản 5, Điều 24: Xoá
bỏ việc đánh thuế hai lần), Việt Nam có nghĩa vụ khấu trừ số thuế khoán (tức là
số thuế đáng ra đã phải nộp nhưng được miễn tại U-dơ-bê-ki-xtăng). Trong trường
hợp này, việc kê khai nộp thuế và khấu trừ số thuế khoán của Công ty Q ở Việt
Nam như sau:
- Xác định số thuế khoán tại U-dơ-bê-ki-xtăng (theo Luật
thuế U-dơ-bê-ki-xtăng):
100.000 đô la Mỹ x 33% = 33.000 đô la Mỹ
- Xác định số thuế phải nộp tại Việt Nam (theo quy định
pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam):
100.000 đô la Mỹ x 25% = 25.000 đô la Mỹ
Như vậy, Công ty Q trên thực tế không phải nộp thuế nhưng
được coi như đã nộp 25.000 đô la Mỹ (trong tổng số 33.000 đô la Mỹ tính theo
luật thuế U-dơ-bê-ki-xtăng trước khi được hưởng ưu đãi) và được trừ số thuế này
vào thuế phải nộp tại Việt Nam (tức là không phải nộp thuế tại Việt
Nam).
Điều 50. Biện pháp khấu
trừ gián tiếp
1. Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam có thu nhập
từ Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam mà khoản thu nhập này đã chịu thuế thu
nhập doanh nghiệp trước khi được chia cho đối tượng đó và tại Hiệp định, Việt
Nam cam kết thực hiện biện pháp khấu trừ thuế gián tiếp thì khi kê khai thuế thu
nhập tại Việt Nam, các khoản thu nhập đó sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế tại
Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam và số thuế
gián tiếp đã nộp ở Nước ký kết sẽ được khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt
Nam. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, số thuế được khấu trừ không vượt quá số
thuế phải nộp tại Việt Nam tính trên thu nhập từ nước ngoài theo quy định pháp
luật hiện hành về thuế ở Việt Nam.
Số thuế gián tiếp được khấu trừ là số thuế do một công ty
cổ phần là đối tượng của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam đã nộp tại Nước ký
kết đó dưới hình thức thuế thu nhập công ty trước khi chia lãi cổ phần cho đối
tượng cư trú của Việt Nam với điều kiện đối tượng cư trú của Việt Nam kiểm soát
trực tiếp một tỷ lệ tối thiểu quyền bỏ phiếu của công ty cổ phần (thường là
10%).
Ví dụ 72: Công ty V của Việt Nam đầu tư 10.000.000 đô la Mỹ
(tương đương 20% vốn cổ phần) tại Công ty N của Liên bang Nga. Trong năm 2010,
Công ty N có thu nhập là 100.000 đô la Mỹ và phải nộp thuế theo Luật thuế Liên
bang Nga (mức thuế suất 30%). Lợi tức sau thuế của Công ty N được chia cho Công
ty V theo tỷ lệ cổ phần và phải nộp thuế tại Liên bang Nga với mức thuế suất 10%
(Khoản 2.a Điều 10: Tiền lãi cổ phần, Hiệp định giữa Việt Nam và Liên bang Nga).
Công ty V có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định pháp luật hiện hành về thuế ở Việt
Nam với mức thuế suất hiện hành (25%). Trong trường hợp này, việc kê khai nộp
thuế và khấu trừ thuế gián tiếp của Công ty V ở Việt Nam như
sau:
- Số lợi nhuận trước thuế của Công ty V của Việt Nam được
hưởng trong tổng số lợi nhuận của Công ty N tại Liên bang Nga
là:
100.000 đô la Mỹ x 20% = 20.000 đô la Mỹ
- Số thuế thu nhập doanh nghiệp Công ty N đã nộp tại Liên
bang Nga đối với phần lợi nhuận nêu trên của Công ty V theo Luật thuế Liên bang
Nga là:
20.000 đô la Mỹ x 30% = 6.000 đô la Mỹ
- Lợi tức cổ phần được chia sau thuế của Công ty V
là:
20.000 đô la Mỹ - 6.000 đô la Mỹ = 14.000 đô la
Mỹ
- Số thuế Công ty V phải nộp tại Liên bang Nga đối với lợi
tức cổ phần được chia theo Hiệp định giữa Việt Nam và Liên bang Nga
là:
14.000 đô la Mỹ x 10% = 1.400 đô la Mỹ
- Tổng số thuế Công ty V phải nộp tại Liên bang Nga (bao
gồm cả thuế trực tiếp do Công ty V nộp trên cổ tức và thuế gián tiếp do Công ty
N có vốn đầu tư của Công ty V nộp trên thu nhập công ty) là:
1.400 đô la Mỹ + 6.000 đô la Mỹ = 7.400 đô la
Mỹ
- Số thuế Công ty V phải nộp tại Việt Nam theo quy định
pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam là:
20.000 đô la Mỹ x 25% = 5.000 đô la Mỹ
Trong trường hợp này, Công ty V chỉ được khấu trừ tối đa là
5.000 đô la Mỹ trong tổng số 7.400 đô la Mỹ đã nộp tại Liên bang Nga. Phần chênh
lệch 2.400 đô la Mỹ (7.400 đô la Mỹ - 5.000 đô la Mỹ) không được phép khấu trừ
vào số thuế đối với thu nhập trong nước (nếu có) của Công ty V.
2. Mặc dù theo quy định trên, Việt Nam chỉ thực hiện biện
pháp khấu trừ thuế gián tiếp khi có cam kết tại Hiệp định, nhưng nếu theo quy
định của luật Việt Nam, các khoản thu nhập từ nước ngoài của một đối tượng cư
trú Việt Nam được khấu trừ thuế gián tiếp thì quy định này vẫn được thực
hiện.
Ví dụ 73: Cũng với Ví dụ 72 nêu trên, giả sử việc đầu tư
vào Công ty N tại Liên bang Nga là một Dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của
Công ty V theo quy định của pháp luật Việt Nam thì dù tỷ lệ đầu tư của Công ty V
chiếm ít hơn 10% vốn cổ phần của Công ty N nhưng các biện pháp khấu trừ thuế
gián tiếp vẫn được thực hiện (Điểm 21, Điều 7, Chương II, Thông tư số
123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị
định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008, Nghị định số 122/2011/NĐ-CP ngày
27/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế
thu nhập doanh nghiệp) mặc dù Hiệp định giữa Việt Nam và Liên bang Nga (Khoản 2,
Điều 23: Biện pháp tránh đánh thuế hai lần) không quy định.
Mặc dù có các quy định như trên về thực hiện các biện pháp
tránh đánh thuế hai lần, nhưng nếu theo quy định tại Hiệp định, các khoản thu
nhập từ nước ngoài của đối tượng cư trú Việt Nam được miễn thuế tại Việt Nam thì
khoản thu nhập này sẽ được miễn thuế và không được trừ số thuế đã nộp tại nước
ngoài (tức là chỉ bị đánh thuế một lần và không phải áp dụng biện pháp tránh
đánh thuế hai lần). Ví dụ như tiền học bổng của học sinh và sinh viên nước ngoài
trong thời gian học tại Việt Nam (Mục 15. Thu nhập của sinh viên, thực tập sinh
và học sinh học nghề, Chương II, Thông tư này).
Các quy định về các biện pháp tránh
đánh thuế hai lần như trên được nêu tại Điều khoản Biện pháp tránh đánh thuế hai
lần (thường là Điều 23) của Hiệp định.
Chương IV
TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN HẠN CỦA NHÀ CHỨC TRÁCH CÓ THẨM
QUYỀN
Điều 51. Nhà chức trách
có thẩm quyền
Theo quy định tại Hiệp định, Nhà chức trách có thẩm quyền
của phía Việt Nam trong Hiệp định thuế là Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc người đại
diện được uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Bộ trưởng Bộ Tài chính uỷ quyền cho Tổng cục Thuế thực hiện
những trách nhiệm và quyền hạn quy định tại Điều 52.
Điều 52. Trách nhiệm và
quyền hạn của Tổng cục Thuế trong việc thực hiện các quy định của Hiệp
định
Để thực hiện các quy định của Hiệp định, Tổng cục Thuế được
Bộ trưởng Bộ Tài chính uỷ quyền thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn
sau:
1. Ban hành văn bản thông báo hiệu lực thi hành hoặc chấm
dứt hiệu lực của từng Hiệp định trong lĩnh vực thuế sau khi có thông báo hiệu
lực của Bộ Ngoại giao;
2. Tổ chức chỉ đạo và hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra các
Cục Thuế, Chi cục Thuế và các tổ chức uỷ nhiệm thu trong việc thực hiện Hiệp
định;
3. Là “Nhà chức trách có thẩm quyền” của Việt Nam trong
việc xử lý các công việc liên quan đến Hiệp định, gồm:
a) Nghiên cứu và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, kiến
nghị và các vấn đề liên quan trong quá trình thực hiện Hiệp định với Nhà chức
trách có thẩm quyền của nước ký Hiệp định với Việt Nam thông qua thực hiện thủ
tục thỏa thuận song phương quy định tại Hiệp định;
b) Trao đổi thông tin với Cơ quan thuế nước ngoài, khai
thác các thông tin do Cơ quan thuế nước ngoài cung cấp và có trách nhiệm giữ bí
mật thông tin theo quy định của Hiệp định;
c) Thực hiện các biện pháp hỗ trợ quản lý hành chính thuế
theo quy định của Hiệp định và phù hợp với quy định của pháp luật Việt
Nam.
Chương V
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 53. Thông tư này có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 02 năm 2014, thay thế Thông tư số
133/2004/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện
các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và
tài sản giữa Việt Nam với các nước có hiệu lực thi hành tại Việt Nam. Các thủ
tục áp dụng Hiệp định được thực hiện theo quy định tại Luật Quản lý thuế và các
văn bản hướng dẫn hiện hành.
Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các cơ
quan, tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu giải
quyết./.
Nơi
nhận: |
KT. BỘ TRƯỞNG |