Giải đáp tình huống thuế thu nhập cá nhân
Rất nhiều câu hỏi về Tình huống thuế TNCN mà doanh nghiệp gặp phải, trong bài viết này Hồng Đức xin được tổng hợp, giải đáp các vướng mắc đó:Tình huống 1: Trường hợp trong tháng phát sinh thu nhập (ví dụ thu nhập
là 50 triệu đồng) nhưng trong tháng đơn vị kê khai thu nhập chịu thuế là 30
triệu, còn lại 20 triệu đồng đến khi quyết toán thuế mới kê khai. Vậy đơn vị có
bị phạt không?
Trả lời:
Tại điểm b, khoản 2 Điều 8 Thông tư
số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của BTC hướng dẫn :
“Thời điểm xác định thu nhập
chịu thuế.
Thời điểm xác định thu nhập chịu
thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân
trả thu nhập cho người nộp thuế.”
Tại tiết c.1 và tiết c.2, điểm c
khoản 5 Điều 10 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính
hướng dẫn:
“c.1) Trường hợp người nộp thuế khai
bổ sung hồ sơ khai thuế không làm thay đổi tiền thuế phải nộp, tiền thuế được
khấu trừ, tiền thuế đề nghị hoàn thì chỉ lập Tờ khai thuế của kỳ tính thuế có
sai sót đã được bổ sung, điều chỉnh và gửi tài liệu giải thích kèm theo, không
phải lập Bản giải trình khai bổ sung, điều chỉnh mẫu số 01/KHBS.
c.2) Trường hợp người nộp thuế khai
bổ sung hồ sơ khai thuế làm tăng tiền thuế phải nộp thì lập hồ sơ khai bổ sung
và tự xác định tiền chậm nộp căn cứ vào số tiền thuế phải nộp tăng thêm, số
ngày chậm nộp và mức tính chậm nộp theo quy định. Trường hợp người nộp thuế
không tự xác định hoặc xác định không đúng số tiền chậm nộp thì cơ quan thuế
xác định số tiền chậm nộp và thông báo cho người nộp thuế biết.”
Căn cứ các quy định trên, Công ty
khi chi trả thu nhập cho các cá nhân đã không kê khai hết thu nhập đến khi
quyết toán thuế mới kê khai thì:
- Trường hợp kê khai bổ sung
không làm thay đổi tiền thuế phải nộp thì Công ty chỉ lập Tờ khai thuế của kỳ
tính thuế có sai sót đã được bổ sung, điều chỉnh và gửi tài liệu giải thích kèm
theo, không phải lập Bản giải trình khai bổ sung, điều chỉnh mẫu số 01/KHBS.
- Trường hợp kê khai bổ sung làm
tăng tiền thuế phải nộp thì Công ty lập hồ sơ khai bổ sung và tự xác định tiền
chậm nộp căn cứ vào số tiền thuế phải nộp tăng thêm, số ngày chậm nộp và mức
tính chậm nộp theo quy định.
Tình huống 2: Cá nhân 6 tháng đầu năm làm việc ở 1 doanh
nghiệp và đã đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc, 6 tháng cuối năm cá
nhân đó chuyển sang làm việc tại Công ty khác thì có phải đăng ký giảm trừ gia
cảnh lại cho người phụ thuộc không.
Trả lời:
Tại điểm i, khoản1 Điều 9 Thông tư
số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
“ Người nộp thuế chỉ phải đăng ký và
nộp hồ sơ chứng minh cho mỗi một người phụ thuộc một lần trong suốt thời gian
được tính giảm trừ gia cảnh. Trường hợp người nộp thuế thay đổi nơi làm việc,
nơi kinh doanh thì thực hiện đăng ký và nộp hồ sơ chứng minh người phụ thuộc
như trường hợp đăng ký người phụ thuộc lần đầu theo hướng dẫn tại tiết
h.2.1.1.1, điểm h, khoản 1, Điều này.”
Căn cứ quy định trên, trường hợp cá
nhân đã đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi thay đổi nơi làm việc
thì thực hiện đăng ký và nộp hồ sơ chứng minh người phụ thuộc cho đơn vị mới
như trường hợp đăng ký người phụ thuộc lần đầu. Cá nhân đó vẫn được tính
giảm trừ gia cảnh cho cả năm.
Tình huống 3: Cá nhân thực hiện đăng ký người phụ
thuộc mẫu số 16/ĐK-TNCN và hồ sơ chứng minh cho cơ quan chi trả thu nhập. Khi
có sự thay đổi về người phụ thuộc cá nhân có phải nộp hồ sơ chứng minh lại cho
cơ quan thuế không?
Trả lời:
Tại điểm h.2.1.1.2 khoản 1 Điều 9
Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
“ h.2.1.1.2) Đăng ký
khi có thay đổi về người phụ thuộc:
Khi có thay đổi (tăng, giảm) về
người phụ thuộc, người nộp thuế thực hiện khai bổ sung thông tin thay đổi của người
phụ thuộc theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp
cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập hoặc cơ quan thuế đối với người nộp thuế
thuộc diện khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế.”
Căn cứ quy định trên, khi người nộp
thuế có thay đổi về người phụ thuộc thì phải khai bổ sung thông tin thay đổi
của người phụ thuộc theo mẫu và nộp cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập hoặc nộp
cho cơ quan thuế đối với trường hợp người nộp thuế khai trực tiếp với cơ quan
thuế.
Tình huống 4: Tại thời điểm quyết toán thuế TNCN, cá nhân không làm việc
tại đơn vị . Xin hỏi những cá nhân đó có phải đưa vào các mẫu biểu quyết toán
thuế của đơn vị không?
Trả
lời:
Tại điểm a.3, khoản 1 Điều 16 Thông
tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính quy định:
“Tổ chức, cá nhân trả thu nhập thuộc
diện chịu thuế thu nhập cá nhân có trách nhiệm khai quyết toán thuế thu nhập cá
nhân và quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay cho các cá nhân có uỷ quyền không
phân biệt có phát sinh khấu trừ thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế.”
Căn cứ quy định trên, trường hợp cá
nhân không còn làm việc tại đơn vị vào thời điểm quyết toán thì đơn vị vẫn phải
kê khai thu nhập trả cho cá nhân đó trên mẫu biểu quyết toán.
Tình huống 5: Đơn vị tính thuế và nộp thuế TNCN theo
quý. Trường hợp một cán bộ làm đến hết tháng 10/2013 thì nghỉ hưu và lập giấy
ủy quyền quyết toán thuế TNCN năm 2013 cam kết không có khoản thu nhập nào khác
ngoài lương hưu. Vậy đến khi quyết toán thuế TNCN năm 2013 thì cá nhân tự quyết
toán thuế với cơ quan thuế hay cơ quan trả thu nhập quyết toán thay cho cá nhân
đó.
Trả
lời:
Tại tiết a.4 điểm a khoản 2 Điều 16
Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính qui định:
“a.4) Cá nhân có thu nhập từ tiền
lương, tiền công ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết toán thuế
thay trong các trường hợp sau:
- Cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền
lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 (ba) tháng trở lên tại một tổ chức,
cá nhân trả thu nhập và thực tế đang làm việc tại đó vào thời điểm uỷ quyền
quyết toán, kể cả trường hợp không làm việc đủ 12 (mười hai) tháng trong năm”….
Căn cứ quy định trên, trường hợp cán
bộ làm đến hết tháng 10/2013 thì nghỉ hưu và lập giấy đề nghị ủy quyền quyết
toán thuế TNCN năm 2013 thì Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm quyết toán thay
phần thu nhập đã trả cho cá nhân đó trong năm 2013.
Tình huống 6: Công ty chi trả cổ tức năm 2013 chi vào năm
2014 có phải trích thuế TNCN không? Nếu phải trích thì trích vào năm 2013 hay
2014? Nếu cổ đông nhận cổ tức là nhân viên trong Công ty thì phần thu từ cổ tức
có cộng vào thu nhập của nhân viên đó để quyết toán thuế TNCN không?
Trả lời:
Tại khoản 3 Điều 2 Thông tư
111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định:
“3. …Thu nhập từ đầu tư vốn là khoản
thu nhập cá nhân nhận được dưới các hình thức:
... b) Cổ tức nhận được từ việc góp
vốn mua cổ phần.” ...
Tại khoản 3 Điều 10 Thông tư
111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định:
“... 3. Thời điểm xác định thu nhập
tính thuế
Thời điểm xác định thu nhập tính
thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập
cho người nộp thuế.”
Căn cứ các quy định trên, phần cổ
tức chi trả vào năm 2014 phải tính thuế TNCN. Thời điểm xác định thu nhập tính
thuế là thời điểm nhận thu nhập (năm 2014). Cổ đông nhận cổ tức là nhân viên
trong Công ty thì phần cổ tức này không được cộng vào thu nhập từ tiền lương,
tiền công của nhân viên này khi quyết toán thuế TNCN mà phải kê khai quyết toán
riêng.
Tình huống 7: Người lao động từ tháng 1 đến tháng 6 có thu
nhập tính thuế thuộc đối tượng phải nộp thuế nhưng từ tháng 7 đến tháng 12 lại
có thu nhập tính thuế không đến mức phải nộp thì cơ quan chi trả quyết toán
thuế như thế nào?
Trả lời:
Tại điểm c Khoản 1 Điều 26 Thông tư
111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định:
“… c) Tổ chức, cá nhân trả thu nhập
thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân không phân biệt có phát sinh khấu trừ
thuế hay không phát sinh khấu trừ thuế có trách nhiệm khai quyết toán thuế thu
nhập cá nhân và quyết toán thuế thu nhập cá nhân thay cho các cá nhân có ủy
quyền.”
Căn cứ quy định trên, cơ quan chi
trả có trách nhiệm khai quyết toán thuế TNCN đối với phần thu nhập trả cho cá
nhân nêu trên.
Tình huống 8: Doanh nghiệp thuê người lao động nước ngoài từ
năm 2011, đến tháng 3 năm 2013 thì về nước (đã nộp thuế TNCN theo từng tháng).
Vậy quyết toán thuế cho người lao động vào bảng kê 05A/BK-TNCN hay 05B/BK-TNCN
và có quyết toán không?
Trả
lời:
Tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 2 Nghị
định 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định:
“... 2. Cá nhân cư trú là người đáp
ứng một trong các điều kiện sau:
a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày
trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày
đầu tiên có mặt tại Việt Nam;
Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo quy
định tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam.
b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt
Nam theo một trong hai trường hợp sau:
- Có nơi ở đăng ký thường trú theo
quy định của pháp luật về cư trú;
- Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo
quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày
trở lên trong năm tính thuế.
Trường hợp cá nhân có nơi ở thường
xuyên tại Việt Nam theo quy định tại Điểm này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam
dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là đối tượng
cư trú của nước nào thì cá nhân đó là đối tượng cư trú tại Việt Nam.
3. Cá nhân không cư trú là người
không đáp ứng điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều này.”
Căn cứ quy định trên: Trường hợp cá
nhân nước ngoài làm việc tại Việt Nam từ năm 2011 đến tháng 3 năm 2013 được xác
định là cá nhân cư trú thì khi quyết toán thuế TNCN kê khai vào mẫu số
05A/BK-TNCN.
Tình huống 9: Bà A là giáo viên của trường THCS Hải Lý từ
tháng 1 đến tháng 5/2013. Từ tháng 01/6/2013 bà A chuyển công tác đến trường
THCS Hải chính, thu nhập chịu thuế của bà A là 6.000.000đ/tháng. Tại trường
THCS Hải Lý đã khấu trừ thuế TNCN là 500.000đ (Bà A không có người phụ thuộc)
Xin hỏi?
- Bà A có được ủy quyền cho trường
THCS Hải Chính quyết toán không?
- Nếu được quyết toán thay thì
trường THCS Hải Chính căn cứ vào đâu để xác định thu nhập chịu thuế của bà A từ
tháng 1 đến tháng 5? Và thu nhập này có được cộng vào TNCT tại biểu 05A-KK
không?
Trả lời
Tại điểm d.1, khoản 2, Điều 26 Thông
tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn cá nhân có thu
nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết
toán thay trong trường hợp:
“Cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền
lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên tại một đơn vị
và thực tế đang làm việc ở đơn vị tại thời điểm uỷ quyền quyết toán, kể cả
trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm.”
Căn cứ quy định trên thì bà A
có thu nhập thường xuyên (trên 3 tháng) tại 2 đơn vị trả thu nhập không được ủy
quyền quyết toán thuế TNCN.
Trường Hải Lý và trường
Hải Chính chỉ kê khai phần thu nhập tại Trường trả cho bà A.
Tình huống 10: Bà B làm kế toán cho 3 DN, mỗi DN có thu nhập là
3.500.000đ/tháng. Bà B không có người phụ thuộc. DN này bà B đều ký hợp đồng
lao động là 12 tháng
- Trường hợp này thì bà B quyết toán
như thế nào?(tự quyết toán hay ủy quyền quyết toán)
Trả
lời
Tại điểm c, khoản 2, Điều 26 Thông
tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:
“Cá nhân cư trú có thu nhập từ
tiền lương, tiền công, từ kinh doanh có trách nhiệm khai quyết toán thuế nếu có
số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn thuế hoặc bù trừ
thuế vào kỳ khai thuế tiếp theo…”
Tại điểm d.1, khoản 2, Điều 26 Thông
tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn cá nhân có thu
nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập quyết
toán thuế thay trong các trường hợp sau:
“Cá nhân chỉ có thu nhập từ tiền
lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên tại một đơn vị
và thực tế đang làm việc ở đơn vị tại thời điểm uỷ quyền quyết toán, kể cả
trường hợp không làm việc đủ 12 tháng trong năm”
Căn cứ các quy định trên thì bà B
không được ủy quyền quyết toán mà phải tự quyết toán thuế nếu thuộc trường
hợp phải quyết toán thuế theo quy định.
Tình huống 11: Ngày 02/4/2014 cơ quan thuế mới nhận được quyết
toán thuế TNCN năm 2013 của NNT, trong đó có kèm theo hồ sơ giảm trừ gia cảnh
cho người phụ thuộc của NNT (là bố đẻ ngoài độ tuổi lao động và không có thu
nhập). Trong năm 2013 trường hợp này chưa đăng ký giảm trừ gia cảnh. Vậy trường
hợp này cơ quan thuế có chấp nhập hồ sơ miễn giảm gia cảnh cho người phụ thuộc
trong năm 2013 không?
Trả
lời:
Tại tiết c.2.3, điểm c, khoản 1 Điều
9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn
giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc:
“Trường hợp người nộp thuế chưa tính
giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế thì được tính giảm
trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp
thuế thực hiện quyết toán thuế và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ
thuộc. Riêng đối với người phụ thuộc khác theo hướng dẫn tại tiết d.4, điểm d,
khoản 1, Điều này thời hạn đăng ký giảm trừ gia cảnh chậm nhất là ngày 31 tháng
12 của năm tính thuế, quá thời hạn nêu trên thì không được tính giảm trừ gia
cảnh cho năm tính thuế đó.”
Tại tiết d.4 điểm d, khoản 1 Điều 9
Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn người phụ
thuộc:
“Các cá nhân khác không nơi nương
tựa mà người nộp thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng và đáp ứng điều kiện tại
điểm đ, khoản 1, Điều này bao gồm:
d.4.1) Anh ruột, chị ruột, em ruột
của người nộp thuế.
d.4.2) Ông nội, bà nội; ông ngoại,
bà ngoại; cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác ruột của người nộp thuế.
d.4.3) Cháu ruột của người nộp thuế
bao gồm: con của anh ruột, chị ruột, em ruột.
d.4.4) Người phải trực tiếp nuôi
dưỡng khác theo quy định của pháp luật.”
Căn cứ quy định trên trường hợp
trong năm người nộp thuế chưa đăng ký giảm trừ gia cảnh đến khi nộp quyết toán
thuế mới đăng ký giảm trừ cho người phụ thuộc là bố đẻ (ngoài độ tuổi lao động
và không có thu nhập) thì vẫn được tính giảm trừ cho người phụ thuộc.
Trường hợp người phụ thuộc là các cá
nhân không nơi nương tựa theo quy định trên thì thời hạn đăng ký giảm trừ gia
cảnh chậm nhất là ngày 31/12 của năm tính thuế.
Tình huống 12: Hộ gia đình cho thuê tài sản có hợp đồng ký kết
với bên thuê có doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm. Khi mua hóa đơn lẻ tại cơ
quan thuế có phải nộp thuế GTGT và thuế TNCN hay không?
Trả lời:
- Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều
11, Khoản 1 Điều 12 Thông tư số 64/2013/TT-BTC ngày 15/05/2013 của Bộ Tài
chính:
“Điều 11. Bán hoá đơn do Cục Thuế
đặt in
1. Cơ quan thuế bán hoá đơn cho tổ
chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh (bao gồm cả hợp
tác xã, nhà thầu nước ngoài, ban quản lý dự án); hộ, cá nhân kinh doanh.
Tổ chức không phải là doanh nghiệp
nhưng có hoạt động kinh doanh theo hướng dẫn tại khoản này là các tổ chức có
hoạt động kinh doanh nhưng không được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác.”
“Điều 12. Cấp hoá đơn do Cục Thuế
đặt in
Trường hợp tổ chức không phải là
doanh nghiệp, hộ và cá nhân không kinh doanh bán hàng hoá, dịch vụ thuộc đối
tượng không chịu thuế giá trị gia tăng hoặc thuộc trường hợp không phải kê
khai, nộp thuế giá trị gia tăng thì cơ quan thuế không cấp hoá đơn.”
- Căn cứ quy định tại Khoản 25, Điều
4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính:
“ Điều 4. Đối tượng không chịu thuế
GTGT
…
25. Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá
nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ một trăm triệu đồng trở xuống.”.
Căn cứ các quy định nêu trên thì hộ
gia đình là hộ không kinh doanh có phát sinh hoạt động cho thuê tài sản, hàng
hóa của hộ gia đình có mức doanh thu hàng năm dưới 100 triệu đồng thuộc đối
tượng không chịu thuế GTGT nên cơ quan thuế không bán, không cấp hóa đơn lẻ đối
với trường hợp này.
Tình huống 13: Hộ có doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm có phải
khai và nộp tờ khai thuế mẫu số 01/THKH cho cơ quan thuế hay không?
Trả lời:
Căn cứ quy định tại Khoản 5 Điều 21 Thông
tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính:
“Điều 21. Khai thuế và xác định số
thuế phải nộp theo phương pháp khoán
…
5. Mức doanh thu không phải nộp thuế
giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp khoán
Hộ nộp thuế khoán có mức doanh thu
bằng hoặc dưới mức doanh thu không phải nộp thuế theo quy định của pháp luật về
thuế giá trị gia tăng không phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá
nhân theo phương pháp khoán.”
Căn cứ quy định nêu trên thì trường
hợp hộ gia đình có doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm thì hộ không phải nộp thuế
giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp khoán. Nhưng vẫn
phải kê khai và nộp tờ khai thuế khoán mẫu số 01/THKH.
Tình huống 14: Trường hợp hộ không kê khai thuế khoán mà chỉ kê
khai thuế môn bài thì có thể căn cứ vào khoảng thu nhập tối đa trên tờ khai
thuế môn bài và biểu xác định tỷ lệ thu nhập trên doanh thu của Cục Thuế để
tính ngược ra doanh thu tối đa làm cơ sở công khai doanh thu của hộ không phải
nộp thuế khoán có được không?
Trả lời:
Căn cứ quy định tại Khoản 6 Điều 21
Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính:
“6. Xác định số thuế khoán
Căn cứ vào tài liệu khai thuế của Hộ
nộp thuế khoán về doanh thu, thu nhập, sản lượng, cơ sở dữ liệu của cơ quan
thuế, kết quả điều tra doanh thu thực tế, cơ quan thuế xác định doanh thu và
mức thuế khoán dự kiến của Hộ nộp thuế khoán để niêm yết công khai, đồng thời
tham vấn ý kiến của Hội đồng tư vấn thuế xã, phường.”
Căn cứ quy định nêu trên thì việc
xác định doanh thu của Hộ nộp thuế khoán phải được căn cứ trên tài liệu khai
thuế của Hộ nộp thuế khoán, cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế, kết quả điều tra
doanh thu thực tế đồng thời tham vấn ý kiến của Hội đồng tư vấn thuế xã,
phường.