Các khoản thu nhập không tính vào thu nhập chịu thuế
Quy định các khoản thu nhập từ tiền lương tiền công không phải tính vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế thu nhập cá nhân như sau:1. Phụ cấp độc hại, nguy hiểm: đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi
làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm.
2. Trợ cấp khó
khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi
sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, mức hưởng chế độ thai sản, mức hưởng dưỡng
sức, phục hồi sức khoẻ sau thai sản, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ
cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc
làm, trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ
luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội.
khoản 2 điều 2 của thông tư 111/2013/TT-BTC
3. Tiền nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có), không bao gồm: khoản lợi ích về nhà ở, điện
nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) đối với nhà ở do người sử dụng lao động
xây dựng để cung cấp miễn phí cho người lao động làm việc tại khu công nghiệp;
nhà ở do người sử dụng lao động xây dựng tại khu kinh tế, địa bàn có điều kiện
kinh tế xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn
cung cấp miễn phí cho người lao động.
Trường hợp cá nhân ở tại
trụ sở làm việc thì thu nhập chịu thuế căn cứ vào tiền thuê nhà hoặc chi phí
khấu hao, tiền điện, nước và các dịch vụ khác tính theo tỷ lệ giữa diện tích cá
nhân sử dụng với diện tích trụ sở làm việc.
Khoản tiền thuê nhà,
điện nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) đối với nhà ở do đơn vị sử dụng lao
động trả hộ tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế trả hộ nhưng không vượt
quá 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh (chưa bao gồm tiền thuê nhà) tại đơn
vị không phân biệt nơi trả thu nhập.”
Khoản 2 Điều 11 Thông tư 92/2015/TT-BTC
4. Khoản tiền do người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ, bảo
hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo
hiểm; mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện hoặc đóng góp Quỹ hưu trí tự nguyện cho
người lao động.
Trường hợp người sử dụng
lao động mua cho người lao động sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc và không có
tích lũy về phí bảo hiểm (kể cả trường hợp mua bảo hiểm của các doanh nghiệp
bảo hiểm không thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam được phép bán bảo
hiểm tại Việt Nam) thì khoản tiền phí mua sản phẩm bảo hiểm này không tính vào
thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động. Bảo hiểm không bắt buộc
và không có tích lũy về phí bảo hiểm gồm các sản phẩm bảo hiểm như: bảo hiểm
sức khoẻ, bảo hiểm tử kỳ (không bao gồm sản phẩm bảo hiểm tử kỳ có hoàn phí),
... mà người tham gia bảo hiểm không nhận được tiền phí tích lũy từ việc tham
gia bảo hiểm, ngoài khoản tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thoả thuận tại hợp
đồng bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm trả.”
Khoản 3 Điều 11 Thông tư 92/2015/TT-BTC
5. Phần khoán chi văn phòng phẩm, công tác phí, điện thoại, trang
phục,... cao hơn mức quy định hiện hành của Nhà nước. Mức khoán chi không tính vào
thu nhập chịu thuế đối với một số trường hợp như sau:
........................
đ.4.2) Đối với người lao
động làm việc trong các tổ chức kinh doanh, các văn phòng đại diện: mức khoán
chi áp dụng phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
.......................................
Theo điểm đ 4, khoản 2 điều
2 của thông tư 111/2013/TT-BTC
Mà quy định về các
khoản phụ cấp nêu trên đang được quy định tại Thông tư
96/2015/TT-BTC (Có hiệu lực 6/8/2015 nhưng được áp dụng từ năm 2015) - sửa
đổi Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC. Theo đó Mức miễn thuế TNCN của
các khoản phụ cấp này như sau:
5.1. Phụ cấp trang phục:
Phần chi trang phục bằng
hiện vật: được Miễn hết
Phần chi trang phục bằng tiền cho người lao động không được vượt quá 05
(năm) triệu đồng/người/năm.
Trường hợp doanh nghiệp
có chi trang phục cả bằng tiền và hiện vật cho người lao động thì mức chi tối
đa đối với chi bằng tiền không vượt quá 05 (năm) triệu đồng/người/năm, bằng
hiện vật được miễn toàn bộ.
5.2 Phụ cấp công tác
phí:
Doanh nghiệp sẽ không bị
khống chế đối với khoản chi phụ cấp cho NLĐ đi công tác, đồng thời được tính
vào chi phí được trừ nếu có hóa đơn, chứng từ. Khoản công tác phí mà doanh
nghiệp khoán cho NLĐ cũng sẽ tính vào chi phí được trừ, thay vì chỉ được trừ
theo mức khoán áp dụng đối với cán bộ công chức, viên chức nhà nước đi công
tác.
Khoản
công tác phí này cũng không tính vào thu nhập chịu thuế của NLĐ khi tính thuế
TNCN.
5.3 Phụ cấp điện
thoại: cũng đi theo quy định của công ty.
Công văn 1166/TCT-TNCN được ban hành vào ngày 21/3/2016. - Về khoản tiền công
tác phí: Trường hợp các khoản thanh toán tiền công tác phí như tiền vé máy
bay, tiền lưu trú, tiền taxi và tiền ăn của các cá nhân đi công tác được tính
vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành thì các khoản thanh toán tiền công
tác phí này là khoản thu nhập được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu
nhập cá nhân. - Về khoản chi tiền điện
thoại cho cá nhân: Trường hợp khoản chi tiền điện thoại cho cá nhân nếu được
ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ
sau: Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công
ty, Tổng công ty, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị,
Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng
công ty được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu
nhập doanh nghiệp thì khoản chi tiền điện thoại cho cá nhân là thu nhập được
trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN. Trường hợp đơn vị chi tiền điện
thoại cho người lao động cao hơn mức khoán chi quy định thì phần chi cao hơn
mức khoán chi quy định phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN. |
6. Đối với khoản chi về phương tiện phục vụ đưa đón người lao động từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại thì không
tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động theo quy chế của đơn vị.
Khoản 4 Điều 11 Thông tư 92/2015/TT-BTC
7) Khoản hỗ trợ của người sử dụng lao động cho việc khám chữa bệnh
hiểm nghèo cho bản thân người lao động và thân nhân của người lao động.
+ Thân nhân của người
lao động trong trường hợp này bao gồm: con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá
thú, con riêng của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ
(hoặc cha chồng, mẹ chồng); cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp.
+ Mức hỗ trợ không tính
vào thu nhập chịu thuế là số tiền thực tế chi trả theo chứng từ trả tiền viện
phí nhưng tối đa không quá số tiền trả viện phí của người lao động và thân nhân
người lao động sau khi đã trừ số tiền chi trả của tổ chức bảo hiểm.
+ Người sử dụng
lao động chi tiền hỗ trợ có trách nhiệm: lưu giữ bản sao chứng từ trả tiền viện
phí có xác nhận của người sử dụng lao động (trong trường hợp người lao động và
thân nhân người lao động trả phần còn lại sau khi tổ chức bảo hiểm trả trực
tiếp với cơ sở khám chữa bệnh) hoặc bản sao chứng từ trả viện phí; bản sao
chứng từ chi bảo hiểm y tế có xác nhận của người sử dụng lao động (trong trường
hợp người lao động và thân nhân người lao động trả toàn bộ viện phí, tổ chức
bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người lao động và thân nhân người lao động) cùng
với chứng từ chi tiền hỗ trợ cho người lao động và thân nhân người lao động mắc
bệnh hiểm nghèo.
8. Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa,
ăn trưa ca cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất
ăn, cấp phiếu ăn.
Trường hợp người sử dụng
lao động không tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa mà chi tiền cho người lao động
thì không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân nếu mức chi phù hợp với hướng
dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Trường hợp mức chi cao hơn mức
hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì phần chi vượt mức phải
tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân. (Hiện nay đang là 680.000/tháng)
9. Khoản tiền mua vé máy bay khứ hồi do người sử dụng lao động trả
hộ (hoặc thanh toán) cho
người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, người lao động là
người Việt Nam làm việc ở nước ngoài về phép mỗi năm một lần.
Căn cứ xác định khoản
tiền mua vé máy bay là hợp đồng lao động và khoản tiền thanh toán vé máy bay từ
Việt Nam đến quốc gia người nước ngoài mang quốc tịch hoặc quốc gia nơi gia
đình người nước ngoài sinh sống và ngược lại; khoản tiền thanh toán vé máy bay
từ quốc gia nơi người Việt Nam đang làm việc về Việt Nam và ngược lại.
10. Khoản tiền học
phí cho con của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam học tại Việt
Nam, con của người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài học tại nước
ngoài theo bậc học từ mầm non đến trung học phổ thông do người sử dụng lao động
trả hộ.
11. Khoản tiền có tính chất phúc lợi nhận được do tổ chức, cá nhân trả thu nhập chi đám hiếu,
hỉ cho bản thân và gia đình người lao động theo quy định chung của tổ chức, cá
nhân trả thu nhập và phù hợp với mức xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh
nghiệp theo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp”
Khoản 5 Điều 11 Thông tư 92/2015/TT-BTC
Trường
hợp Công ty có chi trả các khoản có tính chất phúc lợi KHÁC cho người lao
động nếu xác định được cụ thể cá nhân được hưởng thì phải tính vào thu nhập
chịu thuế TNCN của người lao động theo quy định tại điểm đ Khoản 2 Điều 2 Thông
tư 111/2013/TT-BTC.
12.
Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công
làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động. Cụ
thể như sau:
+ Phần tiền lương, tiền
công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ
vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ (-) đi mức
tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.
Ví dụ: Ông A có mức
lương trả theo ngày làm việc bình thường theo quy định của Bộ luật Lao động là
40.000 đồng/giờ.
- Trường hợp cá nhân làm
thêm giờ vào ngày thường, cá nhân được trả 60.000 đồng/giờ thì thu nhập được
miễn thuế là:
60.000 đồng/giờ – 40.000
đồng/giờ = 20.000 đồng/giờ
- Trường hợp cá nhân làm
thêm giờ vào ngày nghỉ hoặc ngày lễ, cá nhân được trả 80.000 đồng/giờ thì thu
nhập được miễn thuế là:
80.000 đồng/giờ – 40.000
đồng/giờ = 40.000 đồng/giờ
+ Tổ chức, cá nhân trả
thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản
tiền lương trả thêm do làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê
này được lưu tại đơn vị trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan
thuế.
13.Tiền
lương hưu do Quỹ bảo
hiểm xã hội trả theo quy định của Luật Bảo
hiểm xã hội; tiền lương hưu nhận được hàng tháng từ Quỹ hưu trí tự nguyện.
14. Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm
sức khỏe; tiền bồi thường tai nạn lao động; tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy
định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; các khoản bồi thường Nhà
nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật. Cụ thể trong một
số trường hợp như sau:
+
Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm sức
khỏe là khoản tiền mà cá nhân nhận được do tổ chức bảo hiểm nhân thọ, phi nhân
thọ, bảo hiểm sức khỏe trả cho người được bảo hiểm theo thoả thuận tại hợp đồng
bảo hiểm đã ký kết. Căn cứ xác định khoản bồi thường này là văn bản hoặc quyết
định bồi thường của tổ chức bảo hiểm hoặc toà án và chứng từ trả tiền bồi
thường.
+
Thu nhập từ tiền bồi thường tai nạn lao động là khoản tiền người lao động nhận
được từ người sử dụng lao động hoặc quỹ bảo hiểm xã hội do bị tai nạn trong quá
trình tham gia lao động. Căn cứ xác định khoản bồi thường này là văn bản hoặc
quyết định bồi thường của người sử dụng lao động hoặc toà án và chứng từ chi
bồi thường tai nạn lao động.
+
Thu nhập từ bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư là tiền bồi thường, hỗ trợ do Nhà nước thu hồi đất, kể cả
các khoản thu nhập do các tổ chức kinh tế bồi thường, hỗ trợ khi thực hiện thu
hồi đất theo quy định.
Căn
cứ để xác định thu nhập từ bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền về việc thu hồi đất, bồi thường tái định cư và chứng từ chi tiền bồi
thường.
+
Thu nhập từ bồi thường Nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của
pháp luật về bồi thường Nhà nước là khoản tiền cá nhân được bồi thường do các
quyết định xử phạt vi phạm hành chính không đúng của người có thẩm quyền, của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền gây thiệt hại đến quyền lợi của cá nhân; thu
nhập từ bồi thường cho người bị oan do cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố
tụng hình sự quyết định. Căn cứ xác định khoản bồi thường này là quyết định của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc cơ quan hoặc cá nhân có quyết định sai phải
bồi thường và chứng từ chi bồi thường.
+
Thu nhập từ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ Luật dân
sự.”
Khoản 3 Điều 12 Thông tư 92/2015/TT-BTC