Thông tư 107/2017/TT-BTC Hướng dẫn chế độ kế toán hành chính sự nghiệp
THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN HÀNH CHÍNH, SỰ NGHIỆP
BỘ
TÀI CHÍNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Số: 107/2017/TT-BTC |
Hà
Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2017 |
HƯỚNG
DẪN CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN HÀNH CHÍNH, SỰ NGHIỆP
Căn cứ
Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2015;
Căn cứ
Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán;
Căn cứ
Nghị định số 87/2017/NĐ-CP ngày 26 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài
chính;
Theo
đề nghị của Vụ trưởng Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm
toán,
Bộ
trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn Chế độ kế toán hành chính, sự
nghiệp.
Thông
tư này hướng dẫn danh mục biểu mẫu và phương pháp lập chứng từ kế toán bắt buộc;
danh mục hệ thống tài khoản và phương pháp hạch toán tài khoản kế toán; danh mục
mẫu sổ và phương pháp lập sổ kế toán; danh mục mẫu báo cáo và phương pháp lập và
trình bày báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị quy
định tại Điều 2 Thông tư này.
1.
Thông tư này hướng dẫn kế toán áp dụng cho: Cơ quan nhà nước; đơn vị sự nghiệp
công lập, trừ các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi
đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp, áp dụng chế độ kế toán
doanh nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định hiện hành; tổ chức, đơn
vị khác có hoặc không sử dụng ngân sách nhà nước (sau đây gọi tắt là đơn vị hành
chính, sự nghiệp).
2. Đối
với các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư được
áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp, nếu thực hiện đơn đặt
hàng của Nhà nước hoặc có tiếp nhận viện trợ không hoàn lại của nước ngoài hoặc
có nguồn phí được khấu trừ, để lại thì phải lập báo cáo quyết toán quy định tại
Phụ lục 04 của Thông tư này.
Điều
3. Quy định về chứng từ kế toán
1. Các
đơn vị hành chính, sự nghiệp đều phải sử dụng thống nhất mẫu chứng từ kế toán
thuộc loại bắt buộc quy định trong Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, các
đơn vị không được sửa đổi biểu mẫu chứng từ thuộc loại bắt
buộc.
2.
Ngoài các chứng từ kế toán bắt buộc được quy định tại Thông tư này và các văn
bản khác, đơn vị hành chính, sự nghiệp được tự thiết kế mẫu chứng từ để phản ánh
các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh. Mẫu
chứng từ tự thiết kế phải đáp ứng tối thiểu 7 nội dung quy định tại Điều 16 Luật Kế toán, phù hợp với việc ghi chép và yêu cầu quản lý
của đơn vị.
3. Đối
với mẫu chứng từ in sẵn phải được bảo quản cẩn thận, không được để hư hỏng, mục
nát. Séc, Biên lai thu tiền và giấy tờ có giá phải được quản lý như
tiền.
4.
Danh mục, mẫu và giải thích phương pháp lập các chứng từ kế toán bắt buộc quy
định tại Phụ lục số 01 kèm theo Thông tư này.
Điều
4. Quy định về tài khoản kế toán
1. Tài
khoản kế toán phản ánh thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình về tài sản,
tiếp nhận và sử dụng nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn kinh
phí khác; tình hình thu, chi hoạt động, kết quả hoạt động và các khoản khác ở
các đơn vị hành chính sự nghiệp.
2.
Phân loại hệ thống tài khoản kế toán:
a) Các
loại tài khoản trong bảng gồm tài khoản từ loại 1 đến loại 9, được hạch toán kép
(hạch toán bút toán đối ứng giữa các tài khoản). Tài khoản trong bảng dùng để
kế toán
tình hình tài chính (gọi tắt là kế toán tài chính), áp dụng cho tất cả các đơn
vị, phản ánh tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, thặng dư
(thâm hụt) của đơn vị trong kỳ kế toán.
b)
Loại tài khoản ngoài bảng gồm tài khoản loại 0, được hạch toán đơn (không hạch
toán bút toán đối ứng giữa các tài khoản). Các tài khoản ngoài bảng liên quan
đến ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc ngân sách nhà nước (TK 004, 006, 008,
009, 012, 013, 014, 018) phải được phản ánh theo mục lục ngân sách nhà nước,
theo niên độ (năm trước, năm nay, năm sau (nếu có)) và theo các yêu cầu quản lý
khác của ngân sách nhà nước.
c)
Trường hợp một nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh liên quan đến tiếp nhận, sử
dụng: nguồn ngân sách nhà nước cấp; nguồn viện trợ, vay nợ nước ngoài; nguồn phí
được khấu trừ, để lại thì kế toán vừa phải hạch toán kế toán theo các tài khoản
trong bảng, đồng thời hạch toán các tài khoản ngoài bảng, chi tiết theo mục lục
ngân sách nhà nước và niên độ phù hợp.
3. Lựa
chọn áp dụng hệ thống tài khoản:
a) Các
đơn vị hành chính, sự nghiệp căn cứ vào Hệ thống tài khoản kế toán ban hành tại
Thông tư này để lựa chọn tài khoản kế toán áp dụng cho đơn
vị.
b) Đơn
vị được bổ sung tài khoản kế toán trong các trường hợp
sau:
- Được
bổ sung tài khoản chi tiết cho các tài khoản đã được quy định trong danh mục hệ
thống tài khoản kế toán (Phụ lục số 02) kèm theo Thông tư này để phục vụ yêu cầu
quản lý của đơn vị.
-
Trường hợp bổ sung tài khoản ngang cấp với các tài khoản đã được quy định trong
danh mục hệ thống tài khoản kế toán
(Phụ lục số 02) kèm theo Thông tư này thì phải được Bộ Tài chính chấp thuận
bằng văn
bản trước khi thực hiện.
4.
Danh mục hệ thống tài khoản kế toán, giải thích nội dung, kết cấu và
phương pháp
ghi chép tài khoản kế toán nêu tại Phụ lục số 02 kèm theo Thông tư
này.
Điều
5. Quy định về sổ kế toán
1. Đơn
vị hành chính, sự nghiệp phải mở sổ kế toán
để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã
phát sinh có liên quan đến đơn vị kế toán. Việc bảo quản, lưu trữ sổ kế toán
thực hiện theo quy định của pháp luật về kế toán, các văn bản có liên quan và
quy định tại Thông tư này.
2. Đơn
vị hành chính, sự nghiệp có tiếp nhận, sử dụng: nguồn ngân sách nhà nước cấp;
nguồn viện trợ, vay nợ nước ngoài; nguồn phí được khấu trừ, để lại phải mở sổ kế
toán để theo dõi riêng theo Mục lục NSNN và theo các yêu cầu khác để phục vụ cho
việc lập báo cáo quyết toán với ngân sách nhà nước và các cơ quan có thẩm
quyền.
3. Các
loại sổ kế toán
a) Mỗi
đơn vị kế toán chỉ sử dụng một hệ thống sổ kế toán cho một kỳ kế toán
năm, bao gồm sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết.
Tùy
theo hình thức kế toán đơn vị áp dụng, đơn vị phải mở đầy đủ các sổ kế toán tổng
hợp, sổ kế toán chi tiết và thực hiện đầy đủ, đúng nội dung, trình tự và phương
pháp ghi chép đối với từng mẫu sổ kế toán.
Sổ kế
toán ngân sách, phí được khấu trừ, để lại phản ánh chi tiết theo mục lục ngân
sách nhà nước để theo dõi việc sử dụng nguồn ngân sách nhà nước, nguồn phí được
khấu trừ để lại.
Sổ kế
toán theo dõi quá trình tiếp nhận và sử dụng nguồn viện trợ, vay nợ nước ngoài
phản ánh chi tiết theo mục lục ngân sách nhà nước làm cơ sở lập báo cáo quyết
toán theo quy định của Thông tư này và theo yêu cầu của nhà tài
trợ.
b)
Mẫu sổ
kế toán tổng hợp:
- Sổ
Nhật ký dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế, tài
chính phát sinh theo trình tự thời gian. Trường hợp cần thiết có thể kết hợp
việc ghi chép theo trình tự thời gian với việc phân loại, hệ thống hóa các
nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh theo nội dung kinh tế. Số liệu trên Sổ
Nhật ký phản ảnh tổng số các hoạt động kinh tế, tài chính phát sinh trong một kỳ
kế toán.
- Sổ
Cái dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh theo nội dung
kinh tế (theo tài khoản kế toán). Trên Sổ Cái có thể kết hợp việc ghi chép theo
trình tự thời gian phát sinh và nội dung kinh tế của nghiệp vụ kinh tế, tài
chính. Số
liệu trên Sổ Cái phản ánh tổng hợp tình hình tài sản, nguồn kinh phí và tình
hình sử dụng nguồn kinh phí.
c)
Mẫu sổ,
thẻ kế toán chi tiết:
Sổ,
thẻ kế toán chi tiết dùng để ghi chi tiết các nghiệp vụ kinh tế tài
chính phát sinh liên quan đến các đối tượng kế toán theo yêu cầu quản lý
mà Sổ Cái chưa phản ánh chi tiết. Số liệu trên sổ kế
toán chi tiết cung cấp các thông tin cụ thể phục vụ cho việc quản lý trong nội
bộ đơn vị và việc tính, lập các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính và báo cáo
quyết toán ngân sách nhà nước.
Căn cứ
vào yêu cầu quản lý và yêu cầu hạch toán của từng đối tượng kế toán riêng biệt,
đơn vị được phép bổ sung các chỉ tiêu (cột, hàng) trên sổ, thẻ kế toán chi tiết
để phục vụ lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán theo yêu cầu quản
lý.
4.
Trách nhiệm của người giữ và ghi sổ kế toán
a) Sổ
kế toán phải được quản lý chặt chẽ, phân công rõ ràng trách nhiệm cá nhân giữ và
ghi sổ. Sổ kế toán giao cho nhân viên nào thì nhân viên đó phải chịu trách nhiệm
về nội dung ghi trong sổ trong suốt thời gian giữ và ghi
sổ.
b) Khi
có sự thay đổi nhân viên giữ và ghi sổ, kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán
phải tổ chức bàn giao trách nhiệm quản lý và ghi sổ kế toán giữa nhân viên kế
toán cũ với nhân viên kế toán mới. Nhân viên kế toán cũ phải chịu trách nhiệm về
toàn bộ những nội dung ghi trong sổ trong suốt thời gian giữ và ghi sổ, nhân
viên kế toán mới chịu trách nhiệm từ ngày nhận bàn giao. Biên bản bàn giao phải
được kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán ký xác nhận.
c) Sổ
kế toán
phải ghi kịp thời, rõ ràng, đầy đủ theo các nội dung của sổ. Thông tin, số liệu
ghi vào sổ kế toán phải chính xác, trung thực, đúng với chứng từ kế toán tương
ứng dùng để ghi sổ.
d)
Việc ghi sổ kế toán phải theo trình tự thời gian
phát sinh của nghiệp vụ kinh tế, tài chính. Thông tin, số liệu ghi trên sổ kế
toán của năm sau phải kế tiếp thông tin, số liệu ghi trên sổ kế toán của năm
trước liền kề, đảm bảo liên tục từ khi mở sổ đến khi khóa
sổ.
5. Mở
sổ kế toán
a)
Nguyên tắc mở sổ kế toán
Sổ kế
toán phải được mở vào đầu kỳ kế toán năm hoặc ngay sau khi có quyết định thành
lập và bắt đầu hoạt động của đơn vị kế toán. Sổ kế
toán được mở đầu năm tài chính, ngân sách mới để chuyển số dư từ sổ kế toán năm
cũ chuyển sang và ghi ngay nghiệp vụ kinh tế, tài chính mới phát sinh thuộc năm
mới từ ngày 01/01 của năm tài chính, ngân sách mới.
Số
liệu trên các sổ kế toán theo dõi tiếp nhận và sử dụng nguồn ngân sách nhà nước
sau ngày 31/12 được chuyển từ tài khoản năm nay sang tài khoản năm trước để tiếp
tục theo dõi số liệu phát sinh trong thời gian chỉnh lý quyết toán, phục vụ lập
báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước theo quy định.
Đơn vị
được mở thêm các sổ kế toán chi tiết theo yêu cầu quản lý của đơn
vị.
b)
Trường hợp mở sổ kế toán bằng tay (thủ công):
Đơn vị
kế toán
phải hoàn thiện thủ tục pháp lý của sổ kế toán như sau:
- Đối
với sổ kế toán đóng thành quyển:
+
Ngoài bìa (góc trên bên trái) phải ghi tên đơn vị kế toán, giữa bìa ghi tên sổ,
ngày, tháng năm lập sổ, ngày, tháng, năm khóa sổ, họ tên và chữ ký của người lập
sổ, kế toán trưởng hoặc người phụ trách kế toán và thủ trưởng đơn vị ký tên,
đóng dấu; ngày, tháng, năm kết thúc ghi sổ hoặc ngày chuyển giao sổ cho người
khác.
+ Các
trang sổ kế toán phải đánh số trang từ trang một (01) đến hết trang số cuối
cùng, giữa hai trang sổ phải đóng dấu giáp lai của đơn vị kế
toán.
+ Sổ
kế toán sau khi làm đầy đủ các thủ tục trên mới được coi là hợp
pháp.
- Đối
với sổ tờ rời:
+ Đầu
mỗi sổ tờ rời phải ghi rõ tên đơn vị, số thứ tự của từng tờ sổ, tên sổ, tháng sử
dụng, họ tên của người giữ sổ và ghi sổ kế toán.
+ Các
sổ tờ rời trước khi sử dụng phải được Thủ trưởng đơn vị ký xác nhận, đóng dấu và
ghi vào sổ đăng ký sử dụng thẻ tờ rời.
+ Các
sổ tờ rời phải sắp xếp theo thứ tự các tài khoản kế toán và phải đảm bảo an toàn
và dễ tìm.
c)
Trường hợp lập sổ kế toán trên phương tiện điện tử:
Phải
đảm bảo các yếu tố của sổ kế toán
theo quy định của pháp luật về kế toán. Nếu lựa chọn lưu trữ sổ kế toán trên
phương tiện điện tử thì vẫn phải in sổ kế toán tổng hợp ra giấy, đóng thành
quyển và phải làm đầy đủ các thủ tục quy định nêu tại điểm b, khoản 5 Điều
này.
Các sổ
kế toán còn lại, nếu không in ra giấy, mà thực hiện lưu trữ trên các phương tiện
điện tử thì Thủ trưởng đơn vị kế toán phải chịu trách nhiệm để bảo đảm an toàn,
bảo mật thông tin dữ liệu và phải bảo đảm tra cứu được trong thời hạn lưu
trữ.
6. Ghi
sổ kế
toán
a)
Việc ghi sổ kế toán phải căn cứ vào chứng từ kế toán, mọi số liệu ghi trên sổ kế
toán phải có chứng từ kế toán chứng minh; phải đảm bảo số và chữ rõ ràng, liên
tục có hệ thống, không được viết tắt, không ghi chồng đè, không được bỏ cách
dòng.
b)
Trường hợp ghi sổ kế toán thủ công, phải dùng mực không phai, không dùng mực đỏ
để ghi sổ kế toán. Phải thực hiện theo trình tự ghi chép và các mẫu sổ kế toán
quy định tại Phụ lục số 03. Khi ghi hết trang sổ phải cộng số liệu của từng
trang để mang số cộng trang trước sang đầu trang kế tiếp, không được ghi xen
thêm vào phía trên hoặc phía dưới. Nếu
không ghi hết trang sổ phải
gạch chéo phần không ghi, không tẩy xóa, cấm
dùng chất hóa học để sửa chữa.
7.
Khóa sổ kế toán
Khóa
sổ kế toán là việc cộng sổ để tính ra tổng số phát sinh bên Nợ, bên Có và số dư
cuối kỳ của từng tài khoản kế toán hoặc tổng số thu, chi, tồn quỹ, nhập, xuất,
tồn kho.
a) Kỳ
khóa sổ
- Sổ
quỹ tiền mặt phải thực hiện khóa sổ vào cuối mỗi ngày. Sau khi khóa sổ phải thực
hiện đối chiếu giữa sổ tiền mặt của kế toán với sổ quỹ của thủ quỹ và tiền mặt
có trong két đảm bảo chính xác, khớp đúng. Riêng ngày cuối tháng phải lập Bảng
kiểm kê quỹ tiền mặt, sau khi kiểm kê, Bảng kiểm kê quỹ tiền mặt được lưu cùng
với sổ kế toán tiền mặt ngày cuối cùng của tháng.
- Sổ
tiền gửi ngân hàng, kho bạc phải khóa sổ vào cuối tháng để đối chiếu số liệu với
ngân hàng, kho bạc; Bảng đối chiếu số liệu với ngân hàng, kho bạc (có xác nhận
của ngân hàng, kho bạc) được lưu cùng Sổ tiền gửi ngân hàng, kho bạc hàng
tháng.
- Đơn
vị kế toán phải khóa sổ kế toán tại thời điểm cuối kỳ kế toán năm, trước khi lập
báo cáo tài chính.
-
Ngoài ra, đơn vị kế toán phải khóa sổ kế toán trong các trường hợp kiểm kê đột
xuất hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
b)
Trình tự khóa sổ kế toán
(1)
Đối với ghi sổ thủ công:
Bước
1: Kiểm tra, đối chiếu trước khi khóa sổ kế toán
- Cuối
kỳ kế toán, sau khi đã phản ánh hết các chứng từ kế toán phát sinh trong kỳ vào
sổ kế
toán, tiến hành đối
chiếu giữa
số liệu trên chứng từ kế toán (nếu cần) với số liệu đã ghi sổ, giữa số liệu của
các sổ kế toán có liên quan với nhau để đảm bảo sự khớp đúng giữa số liệu trên
chứng từ kế toán với số liệu đã ghi sổ và giữa các sổ kế toán với nhau. Tiến
hành cộng số phát
sinh trên Sổ Cái
và các sổ kế toán chi tiết.
- Từ
các sổ, thẻ kế toán chi tiết lập Bảng tổng hợp chi tiết cho những tài khoản phải
ghi trên nhiều sổ hoặc nhiều trang sổ.
- Tiến
hành cộng số phát sinh Nợ, số phát sinh Có của tất cả các tài khoản trên Sổ Cái
hoặc Nhật ký - Sổ Cái đảm bảo số liệu khớp đúng
và bằng tổng số phát sinh. Sau đó tiến hành đối chiếu giữa số liệu trên Sổ Cái
với số liệu trên sổ kế toán chi tiết hoặc Bảng tổng hợp chi tiết, giữa số liệu
của kế toán với số liệu của thủ quỹ, thủ kho. Sau khi đảm bảo sự khớp đúng
sẽ tiến hành khóa sổ kế
toán. Trường hợp có chênh lệch phải xác định nguyên nhân và xử lý số chênh lệch
cho đến khi khớp đúng.
Bước
2: Khóa sổ
- Khi
khóa sổ phải kẻ một đường ngang dưới dòng ghi nghiệp vụ cuối cùng của kỳ kế
toán. Sau đó ghi “Cộng số phát sinh trong tháng” phía dưới dòng đã
kẻ;
- Ghi
tiếp dòng “Số dư cuối kỳ” (tháng, quý, năm);
- Ghi
tiếp dòng “Cộng số phát sinh lũy kế các tháng trước” từ đầu
quý;
- Ghi
tiếp dòng “Tổng cộng số phát sinh lũy kế từ
đầu năm”;
Dòng
“Số dư cuối kỳ” tính như sau:
Số
dư Nợ cuối kỳ |
= |
Số
dư Nợ đầu kỳ |
+ |
Số
phát sinh Nợ trong kỳ |
- |
Số
phát sinh Có trong kỳ |
Số
dư Có cuối kỳ |
= |
Số
dư Có đầu kỳ |
+ |
Số
phát sinh Có trong kỳ |
- |
Số
phát sinh Nợ trong kỳ |
Sau
khi tính được số dư của từng tài khoản, tài khoản nào dư Nợ thì ghi vào cột Nợ,
tài khoản nào dư Có thì ghi vào cột Có.
- Cuối
cùng kẻ 2 đường kẻ liền nhau kết thúc việc khóa sổ.
-
Riêng một số sổ chi tiết có kết cấu các cột phát sinh Nợ, phát sinh Có và cột
“Số dư” (hoặc nhập, xuất, “còn lại” hay thu, chi, “tồn quỹ”...) thì số liệu cột
số dư (còn lại hay tồn) ghi vào dòng “Số dư cuối kỳ” của cột “Số dư” hoặc cột
“Tồn quỹ”, hay cột “Còn lại”.
Sau
khi khóa sổ kế toán, người ghi sổ phải ký dưới 2 đường kẻ, kế toán trưởng hoặc
người phụ trách kế toán kiểm tra đảm bảo sự chính xác, cân đối sẽ ký xác nhận.
Sau đó trình Thủ trưởng đơn vị kiểm tra và ký duyệt để xác nhận tính pháp lý của
số liệu khóa sổ kế toán.
(2)
Đối với ghi sổ trên máy vi tính:
Việc
thiết lập quy trình khóa sổ kế toán trên phần mềm kế toán cần đảm bảo và thể
hiện các nguyên tắc khóa sổ đối với trường hợp ghi sổ kế toán thủ
công.
8. Sửa
chữa sổ kế toán
a)
Phương pháp sửa chữa sổ kế toán: Thực hiện theo quy định tại khoản
1, khoản 4 Điều 27 Luật Kế toán.
b) Các
tình huống sửa chữa sổ kế toán đối với một (01) năm tài
chính
Đối
với các bút toán đã ghi sổ thuộc năm tài chính, ngân sách năm N, trường hợp có
sai sót hoặc có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, việc điều chỉnh số liệu được
quy định như sau:
(1) Từ
ngày 01/01 năm N đến ngày 31/12 năm N:
Trong
thời gian từ ngày 01/01 năm N đến trước khi khóa sổ kế toán vào ngày 31/12 năm
N, kế toán sửa chữa sổ kế toán tài chính năm hiện tại theo phương pháp quy định
tại tiết a khoản 8 Điều này.
Đối
với các bút toán liên quan đến quyết toán ngân sách nhà nước, đồng thời điều
chỉnh các thông tin trên sổ kế toán chi tiết theo dõi ngân
sách phù hợp với các bút toán tài chính đã sửa chữa.
(2) Từ
ngày 01/01 năm N + 1 đến trước khi nộp báo cáo tài chính cho cơ quan nhà nước có
thẩm
quyền:
Trong
thời gian từ ngày 01/01 năm N + 1 đến trước khi nộp báo cáo tài chính cho cơ
quan nhà nước có thẩm quyền, kế toán sửa chữa sổ kế toán tài chính năm báo cáo
theo phương pháp quy định tại tiết a khoản 8 Điều này.
Đối
với các bút toán liên quan đến quyết toán ngân sách nhà nước, đồng thời điều
chỉnh các thông tin trên sổ kế toán chi tiết theo dõi ngân sách năm báo cáo phù
hợp với các bút toán tài chính đã sửa chữa.
(3)
Sau khi nộp báo cáo tài chính cho cơ quan nhà nước có thẩm
quyền:
- Sau
khi đã nộp báo cáo tài chính, đối với sổ kế toán tài chính, kế toán sửa chữa sổ
kế toán tài chính năm phát hiện theo phương pháp quy định tại tiết a khoản 8
Điều này, đồng thời thuyết minh trên báo cáo tài chính.
- Đối
với các bút toán liên quan đến quyết toán ngân sách nhà
nước:
+
Trường hợp báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước chưa được duyệt, đồng thời điều
chỉnh các thông tin trên sổ kế toán chi tiết theo dõi ngân sách năm báo
cáo.
+
Trường hợp báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước đã được duyệt, đồng thời điều
chỉnh các thông tin trên sổ kế toán chi tiết theo dõi ngân sách năm phát hiện và
thuyết minh trên báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước.
9.
Danh mục sổ kế toán, mẫu sổ, hướng dẫn lập sổ kế toán nêu tại Phụ lục số 03 kèm
theo Thông tư này.
1. Đối
tượng lập báo cáo quyết toán
Đơn vị
hành chính, sự nghiệp có sử dụng ngân sách nhà nước phải lập
báo cáo quyết toán ngân sách đối với phần kinh phí do ngân sách nhà nước
cấp.
Trường
hợp đơn vị hành chính, sự nghiệp có phát sinh các khoản thu, chi từ nguồn khác,
nếu có
quy định phải quyết toán như nguồn ngân sách nhà nước cấp với cơ quan có thẩm
quyền thì phải lập báo cáo quyết toán đối với các nguồn
này.
2. Mục
đích của báo cáo quyết toán
Báo
cáo quyết toán ngân sách nhà nước dùng để tổng hợp tình hình tiếp nhận và sử
dụng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước của đơn vị hành chính, sự nghiệp, được
trình bày chi tiết theo mục lục ngân sách nhà nước để cung cấp cho cơ quan cấp
trên, cơ quan tài chính và cơ quan có thẩm quyền khác. Thông tin trên Báo cáo
quyết toán ngân sách nhà nước phục vụ cho việc đánh giá tình hình
tuân thủ, chấp hành quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và các cơ chế
tài chính khác mà đơn vị chịu trách nhiệm thực hiện, là căn cứ quan trọng giúp
cơ quan nhà nước, đơn vị cấp trên và lãnh đạo đơn vị kiểm tra, đánh giá, giám
sát và điều hành hoạt động tài chính, ngân sách của đơn vị.
Báo
cáo quyết toán nguồn khác phản ánh tình
hình thu - chi
các nguồn khác (ngoài nguồn ngân sách nhà nước) của đơn vị hành chính, sự
nghiệp, theo quy định của pháp luật phải thực hiện quyết toán với cơ quan cấp
trên, cơ quan tài chính và cơ quan có thẩm quyền khác. Thông tin trên Báo cáo
quyết toán nguồn khác phục vụ cho việc đánh giá tình
hình thực hiện cơ chế tài chính mà đơn vị áp dụng, là căn cứ quan trọng giúp cơ
quan cấp trên, cơ quan tài chính, cơ quan có thẩm quyền khác và lãnh đạo đơn vị
đánh giá hiệu quả của các cơ chế, chính sách áp dụng cho đơn
vị.
3.
Nguyên tắc, yêu cầu lập và trình bày báo cáo quyết toán
a)
Nguyên tắc:
- Việc
lập báo cáo quyết toán phải căn cứ vào số liệu sau khi khóa sổ kế
toán.
- Đối
với báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước:
+ Số
quyết toán ngân sách nhà nước bao gồm số kinh phí đơn vị đã nhận và sử dụng từ
nguồn ngân sách nhà nước cấp trong năm, bao gồm cả số liệu phát sinh trong thời
gian chỉnh lý quyết toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà
nước.
+ Số
liệu quyết toán ngân sách nhà nước của đơn vị phải được đối chiếu, có xác nhận
của Kho bạc nhà nước nơi giao dịch.
+ Số
quyết toán chi ngân sách nhà nước là số đã thực chi, có đầy đủ
hồ sơ chứng từ, riêng khoản chi thuộc nguồn phải ghi thu ghi chi ngân sách nhà
nước thì chỉ quyết toán khi đã có thủ tục xác nhận ghi thu - ghi chi vào ngân
sách nhà nước của cơ quan có thẩm quyền.
- Đối
với báo cáo quyết toán nguồn khác: Số liệu quyết toán bao gồm số thu, chi từ
nguồn khác không thuộc ngân sách nhà nước mà đơn vị đã thực hiện từ đầu năm đến
hết ngày 31/12 hàng năm.
b) Yêu
cầu:
Việc
lập báo cáo quyết toán phải bảo đảm sự trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời,
phản ánh đúng tình hình thu, chi đối với từng nguồn kinh phí của đơn vị hành
chính, sự nghiệp.
Báo
cáo quyết toán phải được lập đúng nội dung, phương pháp theo quy định và được
trình bày nhất quán giữa các kỳ báo cáo. Hệ thống chỉ tiêu của báo cáo quyết
toán ngân sách nhà nước phải phù hợp và thống nhất với chỉ tiêu dự toán năm được
cơ quan có thẩm quyền giao và mục lục ngân sách nhà nước, đảm bảo có thể so sánh
được giữa số thực hiện với số dự toán và giữa các kỳ kế toán với
nhau.
Trường
hợp báo cáo quyết toán ngân sách được lập có nội dung và phương pháp trình bày
khác với các chỉ tiêu trong dự toán hoặc khác với báo cáo kỳ kế toán năm trước
thì phải giải trình trong phần thuyết minh báo cáo quyết toán
năm.
4. Kỳ
báo cáo:
Báo
cáo quyết toán ngân sách nhà nước, báo cáo quyết toán nguồn khác được lập báo
cáo theo kỳ kế toán năm.
Số
liệu lập báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm là số liệu thu, chi
thuộc năm ngân sách của đơn vị hành chính, sự nghiệp, được tính đến hết thời
gian chỉnh lý quyết toán ngân sách nhà nước (ngày 31/01 năm sau) theo quy định
của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Số
liệu lập báo cáo quyết toán là số thu, chi thuộc nguồn khác của đơn vị hành
chính, sự nghiệp, được tính đến ngày kết thúc kỳ kế toán năm (ngày
31/12).
Trường
hợp pháp luật có quy định lập thêm báo cáo quyết toán theo kỳ kế toán khác thì
ngoài báo cáo quyết toán năm đơn vị phải lập cả báo cáo theo kỳ kế toán
đó.
5.
Trách nhiệm của các đơn vị trong việc lập, nộp báo cáo quyết
toán
a)
Trách nhiệm của đơn vị:
Đơn vị
hành chính, sự nghiệp phải lập và nộp báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước,
ngoài các mẫu biểu báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước quy định tại Thông tư
này, còn phải lập các mẫu báo cáo phục vụ công tác quyết toán ngân sách nhà
nước, các yêu cầu khác về quản lý ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
về ngân sách nhà nước.
Đơn vị
hành chính, sự nghiệp có phát sinh thu - chi nguồn khác không thuộc ngân sách
nhà nước theo quy định phải quyết toán với cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính
và cơ quan có thẩm quyền khác thì đơn vị phải lập và nộp báo cáo quyết toán kinh
phí nguồn khác theo quy định tại Thông tư này.
Đơn vị
hành chính, sự nghiệp là đơn vị cấp trên phải tổng hợp báo cáo quyết toán năm
của các đơn vị cấp dưới trực thuộc theo quy định hiện
hành.
b)
Trách nhiệm của cơ quan Tài chính, Kho bạc Nhà nước:
Các cơ
quan Tài chính, Kho bạc Nhà nước và các đơn vị khác có liên quan, có trách nhiệm
thực hiện và phối hợp trong việc kiểm tra, đối chiếu, điều chỉnh, cung cấp và
khai thác số liệu về kinh phí và sử dụng kinh phí, quản lý và sử dụng tài sản và
các hoạt động khác có liên quan đến tình hình thu, chi ngân sách nhà nước và các
hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị hành chính, sự
nghiệp.
6. Nội
dung, thời hạn nộp báo cáo quyết toán năm
a) Nội
dung:
Đơn vị
hành chính, sự nghiệp nộp báo cáo cho đơn vị dự toán cấp trên hoặc cơ quan tài
chính cùng cấp (trong trường hợp không có đơn vị dự toán cấp trên),
gồm:
- Các
báo cáo quyết toán năm quy định tại Thông tư này.
- Các
mẫu biểu đối chiếu dự toán ngân sách cấp theo hình thức rút dự toán tại Kho bạc
nhà nước, tình hình tạm ứng và thanh toán tạm ứng kinh phí ngân sách tại Kho bạc
nhà nước, bảng đối chiếu số dư tài khoản tiền gửi tại Kho bạc nhà nước theo quy
định tại Thông tư 61/2014/TT-BTC ngày 12/5/2014 của Bộ Tài chính và các văn bản
sửa đổi, bổ sung, thay thế có liên quan (nếu có).
- Báo
cáo khác theo quy định của cơ quan có thẩm quyền phục vụ công tác quyết toán
ngân sách nhà nước.
b)
Thời hạn nộp Báo cáo quyết toán năm của đơn vị hành chính, sự nghiệp có sử dụng
kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước
và các văn bản hướng dẫn pháp luật về ngân sách nhà nước.
7.
Danh mục báo cáo, mẫu báo cáo, giải thích phương pháp lập báo cáo quyết toán
ngân sách nêu tại Phụ lục số 04, kèm theo Thông tư này.
1. Đối
tượng lập báo cáo tài chính
Sau
khi kết thúc
kỳ kế toán năm, các đơn vị hành chính, sự nghiệp phải khóa sổ và lập báo cáo tài
chính để gửi cơ quan có thẩm quyền và các đơn vị có liên quan theo quy
định.
2. Mục
đích của báo cáo tài chính
Báo
cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt
động tài chính và các luồng tiền từ hoạt động của đơn vị, cung cấp cho những
người có liên quan để xem xét và đưa ra các quyết định về các hoạt động tài
chính, ngân sách của đơn vị. Thông tin báo cáo tài chính giúp cho việc nâng cao
trách nhiệm giải trình của đơn vị về việc tiếp nhận và sử dụng các nguồn lực
theo quy định của pháp luật.
Thông
tin báo cáo tài chính của đơn vị hành chính, sự nghiệp là thông tin cơ sở để hợp
nhất báo cáo tài chính của đơn vị cấp trên.
3.
Nguyên tắc, yêu cầu lập báo cáo tài chính
a)
Nguyên
tắc:
Việc
lập báo cáo tài chính phải được căn cứ vào số liệu kế toán sau khi khóa sổ kế
toán. Báo cáo tài chính phải được lập đúng nguyên tắc, nội dung, phương pháp
theo quy định và được trình bày nhất quán giữa các kỳ kế toán, trường hợp báo
cáo tài chính trình bày khác nhau giữa các kỳ kế toán thì phải thuyết minh rõ lý
do.
Báo
cáo tài chính phải có chữ ký của người lập, kế toán trưởng và thủ trưởng của đơn
vị kế toán. Người ký báo cáo tài chính phải chịu trách nhiệm về nội dung của báo
cáo.
b) Yêu
cầu:
Báo
cáo tài chính phải được phản ánh một cách trung thực, khách quan về nội dung và
giá trị các chỉ tiêu báo cáo; trình bày theo một cấu trúc chặt chẽ, có hệ thống
về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và các luồng tiền từ hoạt động của đơn
vị.
Báo
cáo tài chính phải được lập kịp thời, đúng thời gian quy định đối với từng loại
hình đơn vị, trình bày rõ ràng, dễ hiểu, chính xác thông tin, số liệu kế
toán.
Thông
tin, số liệu báo cáo phải được phản ánh liên tục, số liệu của kỳ này phải kế
tiếp số liệu của kỳ trước.
4. Kỳ
lập báo cáo
Đơn vị
phải lập báo cáo tài chính vào cuối kỳ kế toán năm theo quy định của Luật Kế
toán.
5.
Trách nhiệm của các đơn vị trong việc lập báo cáo tài
chính
a) Các
đơn vị hành chính, sự nghiệp phải lập báo cáo tài chính năm theo mẫu biểu ban
hành tại Thông tư này; trường hợp đơn vị hành chính, sự nghiệp có hoạt động đặc
thù được trình bày báo cáo theo chế độ kế toán do Bộ Tài chính ban hành cụ thể
hoặc đồng ý chấp thuận.
b) Các
đơn vị hành chính, sự nghiệp lập báo cáo tài chính theo biểu mẫu đầy đủ, trừ các
đơn vị kế toán dưới đây có thể lựa chọn để lập báo cáo tài chính đơn
giản:
(1)
Đối với cơ quan nhà nước thỏa mãn các điều kiện:
-
Phòng, cơ quan tương đương phòng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, chỉ được giao
dự toán chi ngân sách nhà nước chi thường xuyên;
-
Không được giao dự toán chi ngân sách nhà nước chi đầu tư phát triển, chi từ vốn
ngoài nước; không được giao dự toán thu, chi phí hoặc lệ
phí;
-
Không có cơ quan, đơn vị trực thuộc.
(2)
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập thỏa mãn các điều kiện:
- Đơn
vị sự nghiệp công lập được cấp có thẩm quyền phân loại là đơn vị sự nghiệp do
ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ
được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu, hoặc nguồn thu
thấp);
-
Không được bố trí dự toán chi ngân sách nhà nước chi đầu tư phát triển, chi từ
vốn ngoài nước; không được giao dự toán thu, chi phí hoặc lệ
phí;
-
Không có đơn vị trực thuộc.
c) Đơn
vị kế toán cấp trên có các đơn vị cấp dưới không phải là đơn vị kế toán phải lập
báo cáo tài chính tổng hợp, bao gồm số liệu của đơn vị mình và toàn bộ thông tin
tài chính của các đơn vị cấp dưới, đảm bảo đã loại trừ tất cả số liệu phát sinh
từ các giao dịch nội bộ giữa đơn vị cấp trên và đơn vị cấp dưới và giữa các đơn
vị cấp dưới với nhau (các đơn vị cấp dưới trong quan hệ thanh toán nội bộ này là
các đơn vị hạch toán phụ thuộc và chỉ lập báo cáo tài chính gửi cho cơ quan cấp
trên để tổng hợp (hợp nhất) số liệu, không phải gửi báo cáo tài chính cho các cơ
quan bên ngoài).
6. Nội
dung và thời hạn nộp báo cáo tài chính
a) Nội
dung:
Đơn vị
hành chính, sự nghiệp nộp báo cáo tài chính cho đơn vị kế toán cấp trên hoặc cơ
quan nhà nước có thẩm quyền các báo cáo tài chính năm theo quy định tại Thông tư
này.
b)
Thời hạn nộp báo cáo tài chính:
Báo
cáo tài chính năm của đơn vị hành chính, sự nghiệp phải được nộp cho cơ quan nhà
nước có thẩm quyền hoặc đơn vị cấp trên trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết
thúc kỳ kế toán năm theo quy định của pháp luật.
7.
Công khai báo cáo tài chính
Báo
cáo tài chính được công khai theo quy định của pháp luật về kế toán và các văn
bản có liên quan.
8.
Danh mục báo cáo, mẫu báo cáo, giải thích phương pháp lập báo cáo tài chính đơn
giản, báo cáo tài chính đầy đủ nêu tại phụ lục số 04,
kèm theo Thông tư này.
1.
Thông tư này có hiệu lực sau 45 ngày, kể từ ngày ký và áp dụng từ ngày
01/01/2018.
2.
Thông tư này thay thế Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ Tài
chính về việc ban hành chế độ kế toán Hành chính sự nghiệp và Thông tư số
185/2010/TT-BTC ngày 15/11/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Chế
độ kế toán Hành chính sự nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số
19/2006/QĐ-BTC.
1. Các
Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách
nhiệm chỉ đạo, triển khai thực hiện Thông tư này tới các đơn vị hành chính sự
nghiệp thuộc phạm vi phụ trách hoặc quản lý.
2. Vụ
trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Vụ trưởng Vụ Hành chính sự nghiệp, Vụ
trưởng Vụ Ngân sách Nhà nước, Chánh văn phòng Bộ và Thủ trưởng các đơn vị liên
quan thuộc Bộ Tài chính chịu trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra và thi
hành Thông tư này./.
|
KT.
BỘ TRƯỞNG |