Quy định mới về cấp mã số thuế của Doanh nghiệp tư nhân và mã số thuế TNCN của chủ doanh nghiệp?
Trong quá trình triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và việc hợp nhất mã số đăng ký kinh doanh với mã số thuế theo tinh thần chỉ đạo tại Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP ngày 30/11/2007 của Chính Phủ, doanh nghiệp và cơ quan quản lý gặp một số vướng mắc về việc cấp mã số thuế đối với doanh nghiệp tư nhân (DNTN) như sau:Tại điểm
2 Phần II Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP của Chính Phủ chỉ đạo: “Bộ Kế hoạch và
Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện ngay việc đăng ký
kinh doanh thành lập mới, đăng ký mã số thuế doanh nghiệp trong thời hạn tối đa
05 ngày làm việc... Thống nhất nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký mã số
thuế trong một bộ hồ sơ duy nhất nộp tại sở Kế hoạch và Đầu tư, thống nhất,
hướng dẫn cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh sử dụng hệ thống mã số thuế doanh
nghiệp làm mã số đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp mới thành lập”.
Điều 145
Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể bán doanh
nghiệp của mình cho người khác”
Điều 24
Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 05/09/2007 của Chính Phủ hướng dẫn chi tiết
thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp quy định: “Doanh nghiệp tư nhân có
thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn theo quyết định của chủ doanh
nghiệp tư nhân ...”.
Tại điểm
3.3 Mục 3 Phần I Thông tư số 85/2007/TT-BTC ngày 17/8/2007 của Bộ Tài Chính
hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế về việc đăng ký thuế quy định: “ Người nộp
thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất để sử dụng trong suốt quá trình hoạt
động từ khi đăng ký thuế cho đến khi không còn tồn tại. Mã số thuế được dùng để
kê khai nộp thuế cho tất cả các loại thuế mà người nộp thuế phải nộp, kể cả
trường hợp người nộp thuế kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau hoặc hoạt động
sản xuất kinh doanh tại các địa bàn khác nhau… Riêng mã số thuế đã cấp cho
người nộp thuế là chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ kinh doanh hoặc một cá nhân
không thay đổi trong suốt cuộc đời của cá nhân đó, kể cả trường hợp đã ngừng
hoạt động kinh doanh sau đó kinh doanh trở lại”.
Căn cứ
các quy định nêu trên, đối với người nộp thuế là DNTN cơ quan thuế đang thực
hiện cấp một mã số thuế duy nhất để chủ DNTN kê khai, nộp thuế cho DNTN; đồng
thời kê khai, nộp thuế TNCN của chủ DNTN (đối với những thu nhập khác không
liên quan đến hoạt động của DNTN). Việc này dẫn đến không tách biệt được nghĩa
vụ kê khai thuế TNCN của bản thân chủ DNTN với nghĩa vụ kê khai khấu trừ thuế
TNCN cho người lao động thuộc doanh nghiệp khi thực hiện quyết toán thuế theo
quy định của Luật thuế TNCN.
Do được
cấp một mã số thuế duy nhất nên việc chuyển đổi từ DNTN sang công ty TNHH hay chuyển
đổi chủ sở hữu từ chủ DNTN này sang chủ DNTN khác (trong trường hợp bán DNTN)
sẽ không được giữ nguyên mã số thuế cũ. Điều này gây khó khăn cho quá trình
giao dịch của doanh nghiệp cũng như việc hợp nhất mã số đăng ký kinh doanh với
mã số thuế của doanh nghiệp.
Để tháo
gỡ các vướng mắc nêu trên, Bộ Tài chính hướng dẫn việc cấp mã số thuế đối với
DNTN và mã số thuế TNCN của chủ DNTN theo hướng tách riêng mã số thuế của 2 đối
tượng này như sau:
- Mỗi
DNTN được cấp một mã số thuế duy nhất làm mã số doanh nghiệp theo tinh thần chỉ
đạo tại Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP của Chính Phủ, để sử dụng trong suốt quá
trình hoạt động kinh doanh, kể cả trường hợp mua bán DNTN và chuyển đổi thành
loại hình doanh nghiệp khác. DNTN sử dụng mã số thuế này để kê khai, nộp thuế
của doanh nghiệp và kê khai khấu trừ thuế TNCN đối với người lao động thuộc
doanh nghiệp.
- Chủ
DNTN được cấp riêng một mã số thuế TNCN để kê khai nghĩa vụ thuế của cá nhân
chủ DNTN.
Để không
làm ảnh hưởng tới các giao dịch cũng như việc kê khai, nộp thuế của doanh
nghiệp, DNTN được giữ nguyên mã số thuế đã được cấp để làm mã số thuế của doanh
nghiệp. Đối với chủ DNTN, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp DNTN căn cứ vào thông
tin về chủ DNTN đã có trong dữ liệu đăng ký thuế của DNTN đã kê khai trước đây,
có trách nhiệm cấp mã số thuế TNCN cho chủ DNTN để sử dụng trong việc kê khai
nghĩa vụ thuế của cá nhân chủ DNTN (Chủ DNTN không phải kê khai thông tin đăng
ký thuế TNCN).
Theo VTCA