Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ, 15/05/2014
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
CHÍNH
PHỦ Số: 47/2014/NĐ-CP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT Hà Nội, ngày 15 tháng 05
năm 2014 |
QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm
2001;
Căn cứ Luật Đất đai ngày
29 tháng 11 năm
2013;
Theo
đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,
Chính
phủ
ban hành Nghị định quy định về bồi thường, hỗ trợ; tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất.
Chương
1.
Nghị định này quy định
chi tiết một số điều, khoản của Luật Đất đai về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất.
1.
Cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai; tổ chức làm nhiệm vụ
bồi thường, giải phóng mặt bằng.
2.
Người sử dụng đất quy định tại Điều 5 của Luật Đất đai khi Nhà nước thu hồi
đất.
3.
Tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất.
QUY ĐỊNH CHI TIẾT VỀ BỒI
THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI
ĐẤT
1.
Đối tượng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại
khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế -
xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là
các trường hợp quy định tại Điều 76 của Luật Đất đai.
2.
Chi phí đầu tư vào
đất còn lại là các chi phí mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích
sử dụng đất nhưng đến thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu
hồi đất còn chưa thu hồi hết. Chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm toàn bộ
hoặc một phần của các khoản chi phí sau:
a) Chi phí san lấp mặt bằng;
b) Chi phí cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống
xói mòn, xâm thực đối với đất sử dụng vào mục đích
sản xuất nông nghiệp;
c) Chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất làm mặt bằng sản
xuất kinh doanh;
d) Chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử
dụng đất.
3. Điều kiện xác định chi phí đầu tư vào đất còn
lại:
a) Có hồ sơ, chứng từ chứng minh đã đầu tư vào đất. Trường hợp chi phí đầu tư
vào đất còn lại không có hồ sơ, chứng từ chứng minh thì Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh)
căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định việc xác định chi phí đầu tư
vào đất còn lại;
b) Chi phí đầu
tư vào đất không có nguồn gốc từ ngân sách nhà
nước.
4.
Chi phí đầu tư vào đất còn lại được tính phải phù hợp với giá thị trường tại
thời điểm có quyết định thu hồi đất và được xác định theo công thức
sau:
Trong
đó:
P:
Chi phí đầu tư vào đất còn lại;
P1: Chi phí san lấp mặt bằng;
P2: Chi phí cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống
xói mòn, xâm thực đối với đất sử dụng vào mục đích sản
xuất nông
nghiệp;
P3: Chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất
làm mặt bằng sản xuất kinh doanh;
P4: Chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử
dụng đất;
T1: Thời hạn sử dụng đất;
T2: Thời hạn sử dụng đất còn lại.
Đối với trường hợp thời điểm đầu
tư vào đất sau thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thì thời hạn sử
dụng đất (T1) được tính từ thời điểm đầu tư vào đất.
Việc bồi thường, hỗ trợ
khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp vượt hạn mức do nhận chuyển quyền sử dụng
đất đối với hộ gia đình, cá nhân quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 77 của Luật
Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:
1.
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền
sử dụng đất trước
ngày 01 tháng 7 năm 2014 do được thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất từ
người khác theo quy định của pháp luật mà đủ điều kiện được bồi thường thì được bồi thường, hỗ trợ theo
diện tích thực tế mà Nhà nước thu hồi.
2.
Đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp quy định
tại Khoản 1 Điều này nhưng không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không
đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai thì chỉ được bồi
thường đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất nông nghiệp. Đối với phần
diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất nông nghiệp thì không được bồi
thường về đất nhưng được xem xét hỗ trợ theo quy định tại Điều 25 của Nghị định
này.
3.
Thời hạn sử dụng đất để tính bồi thường đối với đất nông nghiệp do hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng có nguồn gốc được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích
sản xuất nông nghiệp, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật về đất đai, được áp dụng như đối với trường hợp đất
được Nhà nước giao sử dụng ổn định lâu dài.
1.
Việc bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp của cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo quy định tại Khoản 3 Điều 78
của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:
a)
Đối với đất nông nghiệp sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu
lực thi hành) có nguồn gốc không phải là đất do được Nhà nước giao
không thu tiền sử dụng đất, đất do được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng
năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất theo quy định tại Điều 100 và Điều 102 của Luật Đất đai thì được bồi thường
về đất theo quy
định tại Khoản 2 Điều 74 của Luật Đất đai;
b)
Đối với đất nông nghiệp sử dụng có nguồn gốc do được Nhà nước giao đất không thu
tiền sử dụng đất,
cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì không được bồi thường về đất nhưng
được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).
Việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại để tính bồi thường thực hiện theo
quy định tại Điều 3 của Nghị định này.
2.
Việc bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất
phi nông nghiệp không phải đất ở của cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo quy định
tại Khoản 5 Điều 81 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau
đây:
a)
Đối với đất phi nông nghiệp sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không phải
là đất có nguồn gốc do được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, cho thuê
đất trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ
điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại
Điều 100 và Điều 102 của Luật Đất đai thì được bồi thường về đất theo quy định
tại Khoản 2 Điều 74 của Luật Đất đai.
Trường hợp đất phi nông
nghiệp của cơ sở tôn giáo sử dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến thời điểm có
Thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà có nguồn gốc do nhận
chuyển nhượng, nhận tặng cho thì không được bồi thường về
đất;
b)
Đối với đất phi nông nghiệp có nguồn gốc do được Nhà nước giao đất không thu
tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì không được bồi
thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).
Việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại để tính bồi thường thực hiện theo
quy định tại Điều 3 của Nghị định này.
Trường hợp thu hồi toàn
bộ hoặc một phần diện tích mà diện tích đất còn lại không đủ điều kiện để tiếp
tục sử dụng, nếu cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo còn có nhu cầu sử dụng đất vào
mục đích chung của cộng đồng, cơ sở tôn giáo thì được Nhà nước giao đất mới tại
nơi khác; việc giao đất mới tại nơi khác phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Điều 6. Bồi thường về
đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
Việc bồi thường về đất
khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện
theo quy định sau đây:
1.
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà
nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất
theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi
thường về đất được thực hiện như sau:
a)
Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không
đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã,
phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở
tái định cư;
b)
Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không
đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn
nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều
kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất
ở.
2.
Trường hợp
trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ,
nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện
để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc
có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì
Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương
quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia
đình.
3.
Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp
quy định tại Khoản 1 Điều này mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc
bằng nhà ở tái định cư thi được Nhà nước bồi thường bằng
tiền.
4.
Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền
với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được
bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị
trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở
hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở;
giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quy định.
5.
Trường hợp
trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nông nghiệp không được công nhận là
đất ở thì hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi được chuyển mục đích sử dụng đất
đối với phần diện tích đất đó sang đất ở trong hạn mức giao đất ở
tại địa phương, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu và việc chuyển mục đích sang
đất ở phù hợp với
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phê duyệt. Hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng
đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền sử
dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
6.
Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử
dụng đất để thực
hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi
thường quy định tại
Điều 75 của Luật Đất đai thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau
đây:
a)
Trường hợp thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại vẫn đủ điều
kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng tiền đối với phần diện
tích đất thu hồi;
b)
Trường hợp thu hồi toàn bộ diện tích đất hoặc thu hồi một phần diện tích đất của
dự án mà phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được
bồi thường bằng đất để thực hiện dự án hoặc bồi thường bằng
tiền;
c)
Đối với dự án đã đưa vào kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường
bằng tiền.
Việc bồi thường về đất,
chi phí đầu tư vào đất còn lại đối với đất phi nông nghiệp không phải là đất ở
của hộ gia đình, cá nhân quy định tại Điều 80 của Luật Đất đai được thực hiện
theo quy định sau đây:
1.
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi
Nhà nước thu hồi đất, nếu đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75
của Luật Đất đai thì được bồi thường về đất, cụ thể như
sau:
a)
Đối với đất sử dụng có thời hạn thì được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử
dụng với đất thu hồi; thời hạn sử dụng đất được bồi thường là thời hạn sử dụng
còn lại của đất thu hồi; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng
tiền và được xác định như sau:
Trong
đó:
Tbt: Số tiền được bồi
thường;
G:
Giá đất cụ thể tại thời điểm có quyết định thu hồi đất; nếu đất được Nhà nước
giao đất có thu tiền sử dụng đất thì G là giá đất cụ thể tính tiền sử dụng đất,
nếu đất được Nhà nước cho thuê trả tiền một lần cho cả thời gian thuê thì G là
giá đất cụ thể tính tiền thuê đất;
S:
Diện tích đất thu hồi;
T1: Thời hạn sử dụng
đất;
T2: Thời hạn sử dụng đất
còn lại;
b)
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất mà có nhu cầu sử dụng
với thời hạn dài hơn thời hạn sử dụng còn lại của đất thu hồi thì được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền tăng thời hạn sử dụng nhưng người sử
dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với thời gian được tăng theo quy
định của pháp luật về đất đai.
2.
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở được Nhà
nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm, cho thuê đất thu tiền thuê đất một
lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp quy định
tại Khoản 3 Điều này thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi
phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có) theo quy định tại Điều 3 của Nghị định
này.
3.
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở được
Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được
miễn tiền thuê đất do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng
thì được bồi thường về đất. Căn cứ vào điều kiện thực tế, quỹ đất tại địa
phương, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quy định cụ thể việc bồi thường.
4.
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thương mại, dịch vụ, đất cơ sở sản xuất
phi nông nghiệp, đất phi nông nghiệp khác có thời hạn sử dụng ổn định lâu dài mà
có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của pháp luật khi Nhà nước thu hồi
đất thì được bồi thường về đất theo giá đất ở.
5.
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà
có nguồn gốc do lấn, chiếm, khi Nhà nước thu hồi đất nếu không có chỗ ở nào khác
thì được Nhà nước giao đất ở mới có thu tiền sử dụng đất hoặc bán nhà ở tái định
cư. Giá đất ở tính thu tiền sử dụng đất, giá bán nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quy định.
1.
Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất nghĩa trang, nghĩa địa của tổ
chức kinh tế quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Đất đai được thực hiện theo
quy định sau đây:
a)
Trường hợp thu hồi toàn bộ hoặc một phần diện tích đất mà phần còn lại không đủ
điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa thì chủ dự
án được Nhà nước bồi
thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng nếu dự án đã có
chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng; được bồi thường bằng tiền nếu
dự án đang trong
thời gian xây dựng kết cấu hạ tầng và chưa có chuyển nhượng quyền sử dụng đất
gắn với hạ tầng đó;
b)
Trường hợp
thu hồi một phần diện tích đất mà phần còn lại đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng
làm nghĩa trang, nghĩa địa thì chủ dự án được bồi thường bằng tiền đối với diện
tích đất thu hồi. Nếu trên diện tích đất thu hồi đã có mồ mả thì bố trí di dời
mồ mả đó vào khu vực đất còn lại của dự án; trường hợp khu vực đất còn lại của dự án đã
chuyển nhượng hết thì chủ dự án được Nhà nước bồi thường bằng giao đất mới tại
nơi khác để làm nghĩa trang, nghĩa địa phục vụ việc di dời mồ mả tại khu vực có
đất thu hồi.
Việc giao đất tại nơi
khác để làm nghĩa trang, nghĩa địa quy định tại Điểm này phải phù hợp với quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan, nhà nước có thẩm quyền phê
duyệt.
2.
Doanh nghiệp liên doanh sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở do nhận
góp vốn bằng quyền sử dụng đất quy định tại Điều 184 của Luật Đất đai khi Nhà
nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất theo quy định tại
Khoản 2 Điều 74 của Luật Đất đai trong các trường hợp sau:
a)
Đất do tổ chức kinh tế góp vốn theo quy định tại Điều 184 của Luật Đất đai có
nguồn gốc được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê thu tiền thuê
đất một lần cho cả thời gian thuê mà tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp
không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;
b)
Đất do tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao
đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà
nước, cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm mà được sử dụng giá trị quyền sử
dụng đất như ngân sách nhà nước cấp cho doanh nghiệp, không phải ghi nhận nợ và
không phải hoàn trả tiền thuê đất theo quy định của
pháp luật về đất đai để góp vốn liên doanh với tổ chức, cá nhân nước
ngoài;
c)
Đất do tổ chức kinh tế góp vốn có nguồn gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật mà tiền đã trả cho việc nhận chuyển nhượng không có
nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;
d)
Đất do người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử
dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; doanh
nghiệp liên doanh mà bên Việt Nam góp vốn bằng quyền sử dụng đất nay chuyển
thành doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài.
Việc bồi thường đối với
nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định
tại Khoản 2 Điều 89 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau
đây:
1.
Mức bồi thường nhà, công trình bằng tổng giá trị hiện có của nhà, công trình bị
thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà,
công trình đó.
Giá trị hiện có của nhà,
công trình bị thiệt hại được xác định bằng (=) tỷ lệ phần trăm chất lượng còn
lại của nhà, công trình đó nhân (x) với giá trị xây dựng mới của nhà, công trình
có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban
hành.
Khoản tiền tính bằng tỷ
lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quy định, nhưng mức bồi thường không quá 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công
trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt
hại.
2.
Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định theo công thức
sau:
Trong
đó:
Tgt: Giá trị hiện có của
nhà, công trình bị thiệt hại;
G1: Giá trị xây mới nhà,
công trình bị thiệt hại có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên
ngành ban hành;
T:
Thời gian khấu hao áp dụng đối với nhà, công trình bị thiệt
hại;
T1: Thời gian mà nhà,
công trình bị thiệt hại đã qua sử dụng.
3.
Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần mà phần còn lại không
còn sử dụng được thì bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình; trường hợp nhà, công
trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, những vẫn tồn tại và sử dụng được phần
còn lại thì bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa,
hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình
trước khi bị phá dỡ.
4.
Đối với nhà, công trình xây dựng không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của
Bộ quản lý chuyên ngành ban hành thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quy định mức bồi thường cụ thể cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa
phương.
Bồi thường thiệt hại do
hạn chế khả năng sử dụng đất, thiệt hại tài sản gắn liền với đất đối với đất
thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ quy định tại
Điều 94 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:
1.
Trường hợp làm thay đổi mục đích sử dụng đất:
a)
Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất ở sang đất phi nông nghiệp không phải
là đất ở hoặc từ đất ở sang đất nông nghiệp thì mức bồi thường thiệt hại được
xác định như sau:
Tbt = (G1 - G2) x
S
Trong
đó:
Tbt: Tiền bồi thường
thiệt hại;
G1: Giá đất ở tính bình
quân mỗi m2;
G2: Giá đất phi nông
nghiệp không phải đất ở hoặc giá đất nông nghiệp tính bình quân cho mỗi
m2;
S:
Diện tích đất bị thay đổi mục đích sử dụng đất;
b)
Làm thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất phi nông nghiệp không phải là đất ở
sang đất nông nghiệp thì mức bồi thường thiệt hại được xác định như
sau:
Tbt = (G3 - G4) x
S
Trong
đó:
Tbt: Tiền bồi thường
thiệt hại;
G3: Giá đất phi nông
nghiệp không phải đất ở tính bình quân mỗi m2;
G4: Giá đất nông nghiệp
tính bình quân cho mỗi m2;
S:
Diện tích đất bị thay đổi mục đích sử dụng đất.
2.
Trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất nhưng làm hạn chế khả năng sử
dụng đất thì việc xác định mức bồi thường thiệt hại do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định cụ
thể.
3.
Nhà ở, công trình xây dựng khác và các tài sản khác gắn liền với đất nằm trong
phạm vi hành lang an toàn bị thiệt hại do phải giải tỏa thì được bồi thường theo
mức thiệt hại theo quy định.
4.
Khi hành lang bảo vệ an toàn công trình chiếm dụng khoảng không trên 70% diện
tích thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng thì phần diện tích đất còn lại cũng
được bồi thường theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều
này.
5.
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công
trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ
ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất trong hành lang an toàn
thì được bố trí tái định cư; được bồi thường chi phí di chuyển, và được hỗ trợ
ổn định đời sống, sản xuất
Đất được giao không đúng
thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 nhưng người đang sử dụng đất đã nộp tiền để được
sử dụng đất mà chưa
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì việc bồi thường, hỗ trợ về
đất được thực hiện
theo quy định sau:
1.
Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì người đang sử dụng
đất được bồi thường về đất đối với diện tích và loại đất được
giao.
2.
Trường hợp sử dụng đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7
năm 2004 thì người đang sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ như
sau:
a)
Được bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất được giao là đất nông nghiệp, đất
phi nông nghiệp không phải là đất ở, đất ở trong hạn mức giao
đất quy định tại
Khoản 2 Điều 83 và Khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai năm
2003;
b)
Được bồi thường về đất đối với diện tích đất được giao là đất ở vượt hạn mức
giao đất quy định tại Khoản 2 Điều 83 và Khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai năm
2003 nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định của Chính
phủ về thu tiền sử dụng đất.
3.
Việc bồi thường về tài sản gắn liền với đất thu hồi thực hiện theo quy định của
Luật Đất đai và Nghị định này.
Trường hợp thu hồi đất
mà diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng
đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (sau đây gọi là Nghị định số
43/2014/NĐ-CP) thì được bồi thường theo quy định sau đây:
1.
Nếu diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng
đất thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
2.
Nếu diện tích đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử
dụng đất do việc đo đạc trước đây thiếu chính xác hoặc do khi kê khai đăng ký
trước đây người sử dụng đất không kê khai hết diện tích nhưng toàn bộ ranh giới
thửa đất đã được xác định là không thay đổi, không có tranh chấp với những người
sử dụng đất liền kề, không do lấn, chiếm thì bồi thường theo diện tích đo đạc
thực tế.
3.
Nếu diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền
sử dụng đất, được Ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã)
nơi có đất xác nhận diện tích nhiều hơn là do khai hoang hoặc nhận chuyển quyền
của người sử dụng đất trước đó, đất đã sử dụng ổn định và không có tranh chấp
thì được bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
4.
Đối với phần diện tích đất nhiều hơn diện tích đất ghi trên giấy tờ về quyền
sử dụng đất mà diện
tích đất nhiều hơn là do hành vi lấn, chiếm mà có thì không được bồi thường về
đất.
5.
Việc bồi thường về tài sản gắn liền với đất trong trường hợp đất thu hồi quy
định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này thực hiện theo quy định của Luật Đất đai và
Nghị định này.
Điều 13. Bồi thường về
đất cho người đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng
đất
1.
Khi Nhà nước thu hồi đất mà người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng
đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP mà đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 101
và Điều 102 của Luật Đất đai, các Điều 20, 22, 23, 25, 27 và 28 của Nghị định số
43/2014/NĐ-CP thì được bồi thường về đất.
2.
Trường hợp người có đất thu hồi được bồi thường bằng tiền thì số tiền bồi thường
phải trừ khoản tiền nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền
sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
Điều 14. Bồi thường nhà,
công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà
nước
1.
Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước (nhà thuê hoặc nhà do tổ chức tự
quản) nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ, thì người đang thuê nhà không
được bồi thường đối với diện tích nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và diện tích cơi
nới trái phép, nhưng được bồi thường chi phí tự cải tạo, sửa chữa, nâng cấp; mức
bồi thường do Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
2.
Người đang sử dụng
nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước bị phá dỡ được thuê nhà ở tại nơi tái định cư; giá
thuê nhà là giá thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; nhà thuê tại nơi tái định cư
được Nhà nước bán cho người đang thuê theo quy định của Chính phủ về bán nhà ở
thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê; trường hợp đặc biệt không
có nhà tái định cư để bố trí thì được hỗ trợ bằng tiền để tự lo chỗ ở mới; mức
hỗ trợ bằng 60% giá trị đất và 60% giá trị nhà đang thuê.
Điều 15. Bồi thường về
đất đối với những người đang đồng quyền sử dụng
đất
1.
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất chung có đồng quyền sử dụng đất,
khi Nhà nước thu hồi đất được bồi thường theo diện tích đất thuộc quyền sử dụng;
nếu không có giấy tờ xác định diện tích đất thuộc quyền sử dụng riêng của tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân thì bồi thường chung cho các đối tượng có đồng quyền
sử dụng đất.
2.
Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh hướng dẫn việc phân chia tiền bồi thường về đất cho các đối tượng
đồng quyền sử dụng quy định tại Khoản 1 Điều này.
1.
Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia
đình, cá nhân trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng
con người; đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên
tai khác đe dọa tính mạng con người quy định tại Khoản 3 Điều 87 của Luật Đất
đai được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 79 của Luật Đất đai, Điều 6 và
Điều 22 của Nghị định này.
2.
Đối với trường hợp
đất ở của hộ gia đình, cá nhân bị sạt lở, sụt lún bất ngờ toàn bộ diện tích thửa
đất hoặc một phần diện tích thửa đất mà phần còn lại không còn khả năng tiếp tục
sử dụng thì hộ gia đình, cá nhân được bố trí đất ở tái định cư theo quy định sau
đây:
a)
Diện tích đất ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương quy định nhưng không được vượt quá hạn
mức giao đất ở tại địa phương;
b)
Việc nộp tiền sử dụng đất, miễn giảm tiền sử dụng đất và các ưu đãi khác thực
hiện theo quy định của Nghị định về thu tiền sử dụng đất.
3.
Tiền bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất thu hồi để bố trí tái định cư được
giải quyết như sau:
a)
Ngân sách nhà nước chi trả trong trường hợp thu hồi đất ở do thiên tai gây
ra;
b)
Doanh nghiệp chi trả trong trường hợp thu hồi đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi
trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người do doanh nghiệp đó gây ra; trường
hợp doanh nghiệp đã giải thể, phá sản thì tiền bồi thường, hỗ trợ do ngân sách
nhà nước chi trả.
Việc bồi thường, hỗ trợ
khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư do Quốc hội quyết định chủ
trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư mà phải di
chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống, kinh tế - xã
hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng; dự án thu hồi đất liên quan đến nhiều
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện như sau:
1.
Bộ, ngành có dự án đầu tư có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
nơi có đất thu hồi xây dựng khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định và phải bảo đảm kinh phí cho việc
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định.
Khung chính sách bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm những nội dung chủ yếu sau
đây:
a)
Diện tích từng loại đất dự kiến thu hồi;
b)
Số người sử dụng đất trong khu vực dự kiến thu hồi đất;
c)
Dự kiến mức bồi thường, hỗ trợ đối với từng loại đối tượng thu hồi đất; dự kiến
giá đất bồi thường đối với từng loại đất, từng loại vị
trí;
d)
Phương án bố trí tái định cư (dự kiến số hộ tái định cư, địa điểm, hình thức tái
định cư);
đ)
Dự kiến tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nguồn vốn để thực
hiện;
e)
Dự kiến thời gian và kế hoạch di chuyển, bàn giao mặt
bằng.
2.
Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên
quan tổ chức thẩm tra khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước
khi trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
3.
Căn cứ vào khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được Thủ tướng
Chính phủ quyết định, Bộ, ngành có dự án đầu tư tổ chức lập, tổ chức thẩm định
và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho toàn bộ dự
án.
Ủy
ban nhân
dân cấp tỉnh căn cứ phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được Bộ, ngành
phê duyệt, tổ chức lập, tổ chức thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư đối với dự án thực hiện tại địa phương sau khi đã có ý kiến
chấp thuận bằng văn
bản của Bộ, ngành có dự án đầu tư; tổ chức thực hiện và quyết toán kinh
phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với Bộ, ngành có dự án đầu
tư.
Điều 18. Bồi thường về
di chuyển mồ mả
Đối với việc di chuyển
mồ mả không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 8 của Nghị định này thì
người có mồ mả phải di chuyển được bố trí đất và được bồi thường chi phí đào,
bốc, di chuyển, xây dựng mới và các chi phí hợp lý khác có liên quan trực tiếp.
Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quy định mức bồi thường cụ thể cho phù hợp với tập quán và thực tế tại địa
phương.
Điều 19. Hỗ trợ ổn định
đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất
Việc hỗ trợ ổn định đời
sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 83
của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:
1.
Đối tượng được hỗ
trợ ổn định đời sống và sản xuất gồm các trường hợp
sau:
a)
Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp khi thực hiện Nghị định
số 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc
giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục
đích sản xuất nông nghiệp; Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 1999
của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Bản quy định về việc giao đất
nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản
xuất nông nghiệp và bổ sung việc giao đất làm muối cho hộ gia đình và cá nhân sử
dụng ổn định lâu dài; giao đất lâm nghiệp khi thực hiện Nghị định số 02/CP ngày
15 tháng 01 năm 1994 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất lâm
nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích
lâm nghiệp; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ
về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử
dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày
29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất
đai;
b)
Nhân khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình quy định tại Điểm a Khoản này nhưng phát
sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình
đó;
c)
Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp theo
quy định tại Điểm a Khoản này nhưng chưa được giao đất nông nghiệp và đang sử
dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai
hoang theo quy định của pháp luật, được Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi có đất thu hồi xác nhận là đang trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp
đó;
d)
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục
đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm
đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà
nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường
quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được
hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân
nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ
sản xuất nông nghiệp trên đất đó;
đ)
Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì
được hỗ trợ ổn định sản xuất.
2.
Điều kiện để được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất thực hiện theo quy định
sau đây:
a)
Đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đang sử dụng đất thuộc đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định
tại các Điều 100, 101 và 102 của Luật Đất đai, trừ trường hợp quy định tại Điểm b
Khoản này;
b)
Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào
mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm
đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông trường, lâm trường quy định tại
Điểm d Khoản 1 Điều này thì phải có hợp đồng giao khoán sử
dụng đất.
3.
Việc hỗ trợ ổn định đời sống cho các đối tượng quy định tại các Điểm a, b, c và
d Khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định sau:
a)
Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ
trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12
tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có
điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng.
Đối với trường hợp thu
hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời
gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu
phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng;
b)
Diện tích đất thu hồi quy định tại Điểm a Khoản này được xác định theo từng
quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền;
c)
Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này được tính
bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình tại thời
điểm hỗ trợ của địa phương.
4.
Việc hỗ trợ ổn định sản xuất thực hiện theo quy định sau:
a)
Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn
định sản xuất, bao gồm: Hỗ
trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các dịch vụ
khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt,
chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh
dịch vụ công thương nghiệp;
b)
Đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều này
thì được hỗ trợ ổn định sản xuất bằng tiền với mức cao nhất bằng 30% một năm thu nhập sau thuế,
theo mức thu nhập bình quân của 03 năm liền kề trước đó.
Thu nhập sau thuế được
xác định căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán hoặc được cơ quan thuế
chấp thuận; trường hợp chưa được kiểm toán hoặc chưa được cơ quan thuế chấp
thuận thì việc xác định thu nhập sau thuế được căn cứ vào thu nhập sau thuế do
đơn vị kê khai tại báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh cuối mỗi năm đã gửi cơ quan thuế.
5.
Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào
mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản của các nông, lâm
trường quốc doanh thuộc đối tượng quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều này thì được
hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo hình thức bằng
tiền.
6.
Người lao động do tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại Điểm đ Khoản
1 Điều này thuê lao động theo hợp đồng lao động thì được áp dụng hỗ trợ chế độ
trợ cấp ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động nhưng thời gian trợ
cấp không quá 06 tháng.
7.
Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ, thời gian hỗ trợ, định kỳ chi trả tiền hỗ
trợ cho phù hợp với thực tế tại địa phương.
1.
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các Điểm a, b,
c và d Khoản 1 Điều 19 của Nghị định này (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là
cán bộ, công nhân viên của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh đã nghỉ
hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) khi Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền thì ngoài việc được bồi thường bằng
tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển
đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định sau đây:
a)
Hỗ trợ bằng tiền không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá
đất của địa phương đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi; diện tích
được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa
phương;
b)
Mức hỗ trợ cụ thể do Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ điều kiện thực tế của địa
phương.
2.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên
quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định cơ chế, chính sách giải quyết việc làm
và đào tạo nghề cho người thu hồi đất nông nghiệp.
3.
Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh căn cứ cơ chế, chính sách giải quyết việc làm đã được Thủ tướng
Chính phủ quyết định, chỉ đạo việc lập và tổ chức thực hiện phương án đào tạo,
chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người trong độ tuổi lao động tại địa
phương. Phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được lập và phê
duyệt đồng thời với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trong quá trình
lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm phải lấy ý kiến của
người thu hồi đất.
1.
Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ mà
phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc
làm theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 83 của Luật Đất
đai.
2.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên
quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định cơ chế, chính sách giải quyết việc
làm và đào tạo nghề
cho các nhân khẩu trong độ tuổi lao động hiện có của hộ gia đình, cá nhân có đất
thu hồi.
3.
Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh căn cứ chính sách giải quyết việc làm và đào tạo nghề đã được Thủ
tướng Chính phủ quyết định và điều kiện thực tế tại địa phương quy định mức hỗ
trợ cụ thể cho phù hợp đối với từng loại hộ gia đình, cá nhân có đất thu
hồi.
Điều 22. Hỗ trợ tái định
cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt
Việc hỗ trợ tái định cư
đối với trường hợp
Nhà nước thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài mà phải di chuyển chỗ ở quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 83 của Luật Đất
đai được thực hiện như sau:
1.
Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận đất ở, nhà ở tái
định cư mà số tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư
tối thiểu quy định tại Điều 27 của Nghị định này thì được hỗ trợ khoản chênh
lệch giữa giá trị suất tái định cư tối thiểu và số tiền được bồi thường về
đất
2.
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người Việt
Điều 23. Hỗ trợ người
đang thuê nhà ở không thuộc sở hữu Nhà nước
Hộ
gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở hữu nhà nước khi
Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chi phí di chuyển
tài sản theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh.
Điều 24. Hỗ trợ khi thu
hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn
Trường hợp đất thu hồi
thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì được hỗ trợ; mức hỗ trợ cao
nhất có thể bằng mức bồi thường; mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quy định; tiền hỗ trợ được nộp vào ngân sách nhà nước và được đưa vào dự toán
ngân sách hàng năm của xã, phường, thị trấn; tiền hỗ trợ chỉ được sử dụng để đầu
tư xây dựng các công trình hạ tầng, sử dụng vào mục đích công
ích của xã, phường, thị trấn.
Điều 25. Hỗ trợ khác đối
với người sử dụng đất khi Nhà
nước thu hồi đất
Ngoài việc hỗ trợ quy
định tại các Điều 19, 20, 21, 22, 23 và 24 của Nghị định này, căn cứ vào tình
hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất
và công bằng đối với người có đất thu hồi; trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực
tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không đủ điều
kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
xem xét hỗ trợ cho phù hợp với thực tế của địa phương; trường hợp đặc biệt trình
Thủ tướng Chính phủ quyết
định.
Điều 26. Về lập và thực
hiện dự án tái định cư
Việc lập và thực hiện dự
án tái định cư quy định tại Điều 85 của Luật Đất đai được thực hiện
theo quy định như sau đây:
1.
Dự án tái định cư được lập và phê duyệt độc lập với phương án bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư nhưng phải bảo đảm có đất ở, nhà ở tái định cư trước khi cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất.
2.
Việc lập dự án tái định cư, lựa chọn chủ đầu tư thực hiện theo quy định của pháp
luật về phát triển và quản lý nhà ở tái định cư và phải bảo đảm các quy định tại
Khoản 2 và Khoản 3 Điều 69 của Luật Đất đai.
3.
Khu tái định cư được lập cho một hoặc nhiều dự án; nhà ở, đất ở trong khu tái
định cư được bố trí theo nhiều cấp nhà, nhiều mức diện tích khác nhau phù hợp
với các mức bồi thường và khả năng chi trả của người được tái định
cư.
4.
Đối với dự án khu tái định cư tập trung có phân kỳ xây dựng theo các dự án thành
phần thì tiến độ thu hồi đất và hoàn thành xây
dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư được thực hiện theo tiến độ
của từng dự án thành phần nhưng các công trình cơ sở hạ tầng của từng dự án
thành phần trong khu tái định cư phải bảo đảm kết nối theo đúng quy hoạch chi
tiết đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
5.
Việc bảo đảm kinh phí để thực hiện dự án tái định cư thực hiện theo quy định tại
Điều 32 của Nghị định này.
Điều 27. Suất tái định
cư tối thiểu
1.
Suất tái định cư tối thiểu quy định tại Khoản 4 Điều 86 của Luật Đất đai được
quy định bằng đất ở, nhà ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng tiền để phù hợp với việc
lựa chọn của người được bố trí tái định cư.
2.
Trường hợp
suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng đất ở, nhà ở thì diện tích đất ở
tái định cư không nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa tại địa phương
và diện tích nhà ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích căn hộ tối thiểu theo quy
định của pháp luật về nhà ở.
Trường
hợp suất
tái định cư tối thiểu được quy định bằng nhà ở thì diện tích nhà ở tái định cư
không nhỏ hơn diện tích căn hộ tối thiểu theo quy định của pháp luật về nhà
ở.
Trường hợp suất tái định
cư tối thiểu được tính bằng tiền thì khoản tiền cho suất tái định cư tối thiểu
tương đương với giá trị một suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở, nhà ở tại nơi
bố trí tái định cư.
3.
Căn cứ quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này và tình hình cụ thể của địa
phương, Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh quy định suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở nhà ở, bằng nhà ở và
bằng tiền.
1.
Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích
quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
mà không thuộc trường hợp quy định tại Điều 17 của Nghị định này gồm các nội
dung chủ yếu sau đây:
a)
Họ và tên, địa chỉ của người có đất thu hồi;
b)
Diện tích, loại đất, vị trí, nguồn gốc của đất thu hồi; số lượng, khối lượng,
giá trị hiện có của tài sản gắn liền với đất bị thiệt hại;
c)
Các căn cứ tính toán số tiền bồi thường, hỗ trợ như giá đất tính bồi thường, giá
nhà, công trình tính bồi thường, số nhân khẩu, số lao động trong độ tuổi, số
lượng người được hưởng trợ cấp xã hội;
d)
Số tiền bồi thường, hỗ trợ;
đ)
Chi phí lập và tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt
bằng;
e)
Việc bố trí tái định cư;
g)
Việc di dời các công trình của Nhà nước, của tổ chức, của cơ sở tôn
giáo, của cộng đồng dân cư;
h)
Việc di dời mồ mả.
2.
Việc lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định tại Khoản
1 Điều này thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 69 của Luật Đất đai và phải
niêm yết, tiếp nhận ý kiến đóng góp của người dân trong khu vực có đất thu hồi
ít nhất là 20 ngày, kể từ ngày niêm yết.
1.
Căn cứ quy mô thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư, cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt dự án đầu tư có thể quyết định tách nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư thành tiểu dự án riêng và tổ chức thực hiện độc lập.
2.
Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư đối với dự án đầu
tư thuộc diện nhà nước thu hồi đất của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty,
đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương.
3.
Bộ, ngành có dự án đầu tư phải phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
và Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình tổ chức
thực hiện; bảo đảm kinh phí cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy
định.
Điều 30. Chi trả tiền
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1.
Việc trừ khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai vào số tiền
được bồi thường quy định tại Khoản 4 Điều 93 của Luật Đất đai được thực hiện
theo quy định sau đây:
a)
Khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai bao gồm tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước nhưng đến thời điểm thu hồi đất vẫn
chưa nộp;
b)
Số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính quy định tại Điểm a Khoản này được xác
định theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất,
thuê mặt nước.
Trường hợp số tiền chưa
thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định thu hồi đất lớn hơn số
tiền được bồi thường, hỗ trợ thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số
tiền chênh lệch đó; nếu hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư thì sau khi
trừ số tiền bồi thường, hỗ trợ vào số tiền để được giao đất ở, mua nhà ở tại nơi
tái định cư mà số tiền còn lại nhỏ hơn số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính
thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch
đó;
c)
Tiền được bồi thường để trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính gồm
tiền được bồi thường về đất, tiền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại
(nếu có). Không trừ các khoản tiền được bồi thường chi phí di chuyển, bồi thường
thiệt hại về tài sản, bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh và các khoản tiền
được hỗ trợ vào khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất
đai.
2.
Đối với trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở, nhà ở tái
định cư hoặc nhà ở tái định cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch
đó được thanh toán bằng tiền theo quy định sau:
a)
Trường hợp tiền bồi thường về đất lớn hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tại
khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh lệch
đó;
b)
Trường hợp tiền bồi thường về đất nhỏ hơn tiền đất ở, nhà ở hoặc tiền nhà ở tái
định cư thì người được bố trí tái định cư phải nộp phần chênh lệch, trừ trường
hợp quy định tại Khoản 1 Điều 22 của Nghị định này.
3.
Trường hợp
diện tích đất thu hồi đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất mà chưa giải quyết
xong thì tiền bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất đang tranh chấp đó
được chuyển vào Kho bạc Nhà nước chờ sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải
quyết xong thì trả cho ngươi có quyền sử dụng đất.
4.
Việc ứng vốn để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện theo quy định sau
đây:
a)
Quỹ phát triển đất thực hiện ứng vốn cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải
phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch để giao đất, cho thuê đất thực hiện theo Quy chế
mẫu về quản lý, sử dụng Quỹ phát triển đất;
b)
Người được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất theo quy định
của pháp luật về đất đai nếu tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư theo phương án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt thì
được ngân sách nhà nước hoàn trả bằng hình thức trừ vào tiền sử dụng đất, tiền
thuê đất phải nộp. Mức được trừ không vượt quá tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
phải nộp; số tiền còn lại (nếu có) được tính vào vốn đầu tư của dự
án.
Trường hợp người được
Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất,
cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà được miễn tiền sử dụng
đất, tiền thuê đất nếu tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư theo phương án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt thì kinh phí
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tính vào vốn đầu tư của dự
án.
Điều 31. Chi phí tổ chức
thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1.
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập dự toán
chi phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của từng dự án theo
quy định sau đây:
a)
Đối với các khoản chi đã có định mức, tiêu chuẩn, đơn giá do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quy định thì thực hiện theo quy định hiện hành;
b)
Đối với các khoản chi chưa có định mức, tiêu chuẩn, đơn giá thì lập dự toán theo
thực tế cho phù hợp với đặc điểm của từng dự
án và thực tế ở địa phương;
c)
Chi in ấn tài liệu, văn phòng phẩm, xăng xe, hậu cần phục vụ và các khoản phục
vụ cho bộ máy quản lý được tính theo nhu cầu thực tế của từng dự
án.
2.
Kinh phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng được
trích không quá 2% tổng số kinh phí bồi thường, hỗ trợ của dự
án. Đối với các dự án thực hiện trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, dự án xây dựng công trình hạ tầng theo tuyến
hoặc trường hợp phải thực hiện cưỡng chế kiểm đếm thì tổ chức được giao thực
hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được
lập dự toán kinh phí tổ chức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án theo khối
lượng công việc thực tế, không khống chế mức trích 2%.
Cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết
định kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho từng dự án
theo quy định của pháp luật.
3.
Trường hợp phải thực hiện cưỡng chế thu hồi đất thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi
thường, giải phóng mặt bằng lập dự toán kinh phí tổ chức thực hiện cưỡng chế
trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định. Việc bố trí
kinh phí tổ chức
thực hiện cưỡng chế thu hồi đất như sau:
a)
Đối với trường hợp giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất
nhưng được miễn nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì khoản kinh phí này được
bố trí và hạch toán vào vốn đầu tư của dự án;
b)
Đối với trường hợp
nhà nước thực hiện thu hồi đất tạo quỹ đất sạch để giao, cho thuê thông qua hình
thức đấu giá thì khoản kinh phí này được ứng từ Quỹ phát triển
đất;
c)
Đối với trường hợp nhà đầu tư tự nguyện ứng tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
(trong đó có khoản kinh phí thực hiện cưỡng chế thu hồi đất) thì khoản kinh phí
này được trừ vào số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải
nộp.
4.
Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán chi phí tổ
chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Điều 32. Kinh phí thực
hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1.
Kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư gồm: Tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư đối với đất thu hồi để thực hiện dự án đầu tư, chi phí bảo đảm cho việc tổ
chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và các khoản chi phí
khác.
Việc xác định tiền bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư phải theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2.
Kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện
các dự án được quy định như sau:
a)
Kinh phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được tính vào kinh phí thực
hiện dự án đầu
tư;
b)
Bộ, ngành có trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối
với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội;
chấp thuận, quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ nhưng do Bộ, ngành thực
hiện và các dự án do Bộ, ngành làm chủ đầu
tư;
c)
Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh có trách nhiệm bảo đảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh;
d)
Trường hợp chủ đầu tư tự nguyện ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
thì có trách nhiệm bảo đảm kinh phí thực hiện các dự án không thuộc trường hợp
quy định tại Điểm b và Điểm c Khoản này.
1.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tập đoàn kinh tế, Tổng công
ty, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương quản lý có dự án đầu tư phải thu
hồi đất có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
và Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong quá trình tổ chức
thực hiện; bảo đảm kinh phí cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy
định của Nghị định này.
2.
Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư theo quy định tại Nghị định này. Trước ngày 01 tháng 12 hàng năm, báo
cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường về tình hình và kết quả thực hiện thu hồi đất,
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại địa phương.
3.
Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn, kiểm
tra, thanh tra việc thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định
tại Nghị định này và giải quyết các vướng mắc phát sinh theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh.
Điều 34. Xử lý một số
vấn đề phát sinh khi ban hành Nghị định
1.
Đối với đất dự án thuộc diện Nhà nước thu hồi đất mà nhà đầu tư được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
cho phép nhận chuyển nhượng đất thuộc phạm vi dự án trước ngày 01 tháng 7 năm
2014 thì khoản tiền nhà đầu tư đã trả để nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất được trừ vào số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
theo quy định của pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm
2014.
2.
Đối với đất dự án trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thuộc diện Nhà nước thu hồi đất
do sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả; không đưa đất
vào sử dụng 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn 24 tháng so
với tiến độ ghi trong dự án đầu tư và đã được Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền nơi có đất ban hành quyết định thu hồi đất thì việc xử lý tiền sử
dụng đất, tiền thuê đất, tài sản đã đầu tư trên đất thực hiện theo quy
định của pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014; trường hợp chưa có
quyết định thu hồi đất thì thực hiện theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 64
của Luật Đất đai.
3.
Trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư được phê duyệt theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày 01
tháng 7 năm 2014 thì tiếp tục thực hiện theo phương án đã phê
duyệt.
4.
Trường hợp đã có quyết định thu hồi đất nhưng chưa có phương án bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư được phê duyệt trước ngày 01 tháng 7 năm
2014 thì giải quyết theo quy định sau đây:
a)
Đối với dự án thuộc trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của
Luật Đất đai, chủ đầu tư đủ điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đất
đai thì Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh cho phép tiếp tục lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Luật Đất đai năm
2013;
b)
Đối với dự án không đủ điều kiện quy định tại Điểm a Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền ra quyết định hủy quyết định thu hồi đất và chỉ đạo các tổ chức, cá
nhân liên quan phải dừng thực hiện dự án;
c)
Đối với dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thu hồi đất theo tiến
độ thì Nhà nước tiếp tục thực hiện thu hồi đất đối với phần diện tích đất còn
lại và lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo
quy định của Luật Đất đai năm 2013.
5.
Đối với đất sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà có nguồn gốc do được Nhà
nước cho thuế đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì người có
đất thu hồi không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư
vào đất còn lại theo quy định của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12
năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất.
1.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2014.
2.
Nghị định này thay thế Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của
Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất.
Các Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp,
tổ chức và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định
này.
Nơi
nhận: |
TM. CHÍNH PHỦ |