Quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp những vấn đề đặt ra

  • 719
  • Luật Thuế TNDN (sửa đổi) được Quốc hội thông qua tháng 6 năm 2008 và thực hiện từ 01/01/2009; theo đó, Chính phủ đã có Nghị định số 124/2008/NĐ-CP và Bộ Tài chính đã có Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 hướng dẫn chi tiết thi hành. Đến nay, sau 1 năm triển khai thực hiện đã cho thấy Luật Thuế TNDN đang đi vào cuộc sống. Nhiều điểm mới của luật đã được cơ quan thuế và doanh nghiệp nắm bắt và triển khai tích cực, áp dụng trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh.
  • Đ

    ể chuẩn bị cho công tác kê khai quyết toán thuế TNDN năm 2009 vào đầu năm nay thì việc hiểu và kê khai đầy đủ theo quy định là rất cần thiết. Trong quá trình triển khai thực hiện Luật Thuế TNDN, qua ý kiến của nhiều doanh nghiệp, có thể thấy có một số điểm chưa được hướng dẫn rõ, cần phân tích, trao đổi để có sự hiểu và thực hiện thống nhất trong quá trình quyết toán thuế.

    Thứ nhất, đối với việc trích lập dự phòng quỹ tiền lương: Tại tiết c, điểm 2.5 mục IV Phần C Thông tư 130 hướng dẫn, các khoản chi sau không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế: “Chi tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả cho người lao động nhưng hết thời gian nộp hồ sơ quyết toán thuế năm thực tế chưa chi, trừ trường hợp doanh nghiệp có trích lập quỹ dự phòng để bổ sung vào quỹ tiền lương của năm sau liền kề, nhằm bảo đảm việc trả lương không bị gián đoạn và không được sử dụng vào mục đích khác. Mức dự phòng hàng năm do doanh nghiệp quyết định, nhưng không quá 17% quỹ tiền lương thực hiện”.

    Như vậy vấn đề đặt ra là, quỹ tiền lương thực hiện có phải là tổng quỹ lương thực tế đã chi trả của năm quyết toán đó đến thời điểm nộp hồ sơ quyết toán thuế hay không? Trường hợp doanh nghiệp lập quỹ dự phòng tiền lương thì được lập quỹ dự phòng theo số đã thực hiện nay theo tiền lương ký kết tại hợp đồng lao động?

    Về nội dung này, qua nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN và quy định về tiền lương cho thấy, việc trích lập dự phòng và tổng số tiền lương, tiền công thực tế đã chi trả đến thời hạn nộp hồ sơ quyết toán không vượt quá tổng tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động theo định mức tiền lương đã được duyệt.

    Ví dụ: Quỹ tiền lương năm 2009 của Doanh nghiệp A (DNA) phải trả cho người lao động và đã trích vào chi phí là 110 tỷ đồng, trong năm 2009 DNA đã trả tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp cho người lao động hết 85 tỷ đồng, như vậy đến cuối ngày 31/12/2009 còn dư lại 25 tỷ đồng. Trong quý I năm 2010 đơn vị tiếp tục sử dụng quỹ tiền lương năm 2009 để chi trả tiền lương, tiền công của năm 2009 để chi trả tiền lương, tiền công năm 2009 là 5 tỷ đồng. Như vậy, quỹ tiền lương thực hiện năm 2009 đến thời hạn cuối cùng nộp hồ sơ quyết toán là 90 tỷ đồng. Để đảm bảo việc trả lương không bị gián đoạn và không sử dụng vào mục đích khác, DNA được trích lập quỹ dự phòng mức tối đa là: 90 tỷ đồng x 17% = 15,3 tỷ đồng.

    Theo đó, tổng số tiền lương được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế của năm 2009 = 90 tỷ + 15,3 tỷ = 105,3 tỷ đồng.

    Cũng theo ví dụ trên, nếu tính đến cuối ngày 31/3/2010, DNA đã chi trả tiền lương, tiền công trong năm 2009 và chi bổ sung trong 3 tháng đầu năm 2010 là 95 tỷ đồng, DNA được trích lập quỹ dự phòng mức tối đa là: 95 tỷ đồng x 17% = 16,15 tỷ đồng. Tổng số tiền lương năm 2009 nếu tính 17% trên quỹ lương thực hiện là, 95 tỷ đồng + 16,15 tỷ đồng = 111,15 tỷ đồng. Do vậy tổng số tiền lương được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế của năm 2009 = 110 tỷ đồng.

    Thứ hai, về việc xác định kỳ tính thuế TNDN: Các doanh nghiệp có năm tài chính khác với năm dương lịch (một số đơn vị tính từ 01/04/2008 đến ngày 31/03/2009 là kỳ tính thuế) thì áp dụng chính sách thuế TNDN như thế nào, áp dụng thuế suất thuế TNDN 28% hay 25%?

    Về vấn đề này, có thể thấy rằng Luật Thuế TNDN và Nghị định số 124 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 quy định thuế suất TNDN phổ thông là 25%. Khoản 1 Phần I Thông tư số 130/2008/TT-BTC hướng dẫn: “ Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo và áp dụng cho kỳ tính thuế từ năm 2009 trở đi. Các doanh nghiệp áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch mà không được hưởng thuế suất thuế TNDN ưu đãi thì áp dụng thuế suất thuế TNDN 25% kể từ kỳ tính thuế năm 2009”. Hiện đang có 2 luồng ý kiến đề xuất xử lý vấn đề này.

    Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, đối với doanh nghiệp áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch thì kỳ tính thuế năm 2008 áp dụng chính sách thuế TNDN theo Thông tư số 134/2007/TT-BTC; kỳ tính thuế năm 2009 áp dụng chính sách thuế TNDN theo Thông tư số 130/2008/TT-BTC. Trường hợp doanh nghiệp áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch mà không được hưởng thuế suất thuế TNDN ưu đãi thì khi tính thuế TNDN phải nộp, được phân bổ thuế suất thuế TNDN 25% tương ứng với số tháng phát sinh trong năm 2009.

    Một số trường hợp kiến nghị, áp dụng theo hướng dẫn tại Thông tư số 130, theo đó đối với doanh nghiệp áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch thì kỳ tính thuế năm 2008 áp dụng chính sách thuế TNDN theo Thông tư số 134/2007/TT-BTC; kỳ tính thuế năm 2009 áp dụng chính sách thuế TNDN theo Thông tư số 130/2008/TT-BTC. Doanh nghiệp không được hưởng thuế suất thuế TNDN ưu đãi thì áp dụng thuế suất thuế TNDN 25% kể từ kỳ tính thuế năm 2009.  Tuy nhiên, do Luật Thuế TNDN và Nghị định số 124 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009; Thông tư số 130 có hiệu lực thi hành từ kỳ tính thuế năm 2009. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi cho doanh nghiệp, nên đề xuất thực hiện theo phương án thứ nhất sẽ phù hợp hơn.

    Thứ ba, về xác định lỗ và chuyển lỗ: Tại Nghị định số 24/2007/NĐ-CP và Thông tư số 134/2007/TT-BTC quy định: “ Cơ sở kinh doanh sau khi quyết toán thuế với cơ quan thuế mà bị lỗ thì được chuyển lỗ và trừ vào thu nhập chịu thuế của những năm sau. Thời gian chuyển lỗ không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ”. Nghị định số 124/2008/NĐ-CP và Thông tư số 130/2008/TT-BTC quy định: “Doanh nghiệp có lỗ thì được chuyển lỗ sang năm sau; số lỗ này được trừ vào thu nhập chịu thuế. Thời gian chuyên lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp theo sau năm phát sinh lỗ”.

    Như vậy, các quy định hiện hành chưa quy định rõ việc chuyển lỗ được tính liên tục áp dụng cho số lỗ của năm 2009 hay được tính cho số lỗ của các năm trước còn trong thời hạn chuyển lỗ vào thu nhập chịu thuế của năm 2009, vì theo quy định trước đây thì doanh nghiệp có thể lựa chọn chuyển lỗ vào bất kỳ năm nào trong thời hạn 5 năm kể từ năm tiếp theo năm phát sinh lỗ.

    N

    ghiên cứu sâu về vấn đề này, có thể thấy rằng: Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 124/2008/NĐ-CP quy định: “Doanh nghiệp có lỗ thì được chuyển lỗ sang năm sau; số lỗ này được trừ vào thu nhập chịu thuế. Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ”. Đồng thời Khoản 2 , mục VII Phần C Thông tư số 130/2008/TT-BTC hướng dẫn: “Doanh nghiệp sau khi quyết toán thuế mà bị lỗ thì được chuyển lỗ của năm quyết toán thuế trừ vào thu nhập chịu thuế của những năm sau. Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ”. Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể theo hướng: Các khoản lỗ phát sinh từ năm 2009 trở đi sẽ phải thực hiện theo hướng: Các khoản lỗ phát sinh từ năm 2009 trở đi sẽ phải thực hiện chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ. Các khoản lỗ phát sinh trước năm 2009 thực hiện chuyển lỗ theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật quy định tại thời điểm đó.

     

    Th.S Cao Anh Tuấn

     Theo Thuế  NN

Bài viết liên quan

Đăng ký học tại đây